
Người Mường Nhóm
Ngôn Ngữ Việt-Mường (NhómVM) gồm những ngôn ngữ
nào ? Tại sao lại phải quan tâm đến nó ?
Henri Maspero
(Paris,
1883 - Buchenwald (Allemagne), 1945)
trong công trình nghiên cứu trứ danh
về Ngữ âm lịch sử tiếng Việt (1912) trong
lúc truy tầm về nguồn gốc và quan hệ thân thuộc
của tiếng Việt, đã vô tình đặt ra nền tảng của
cái mà ngày nay ta gọi là Nhóm Việt-Mường
.
Tiếng Việt tách ra thành một cá thể ngôn ngữ
riêng biệt từ một hạ tầng Nam Á (substrat
austroasiatique) nhưng vì những vay mượn qua
tiếng Thái (còn gọi là Tháy, Táy) và tiếng Hán
và trải qua những biến chuyển ngữ âm đặc thù với
sự hình thành một hệ thống sáu thanh điệu, nên
đã che lấp đi quan hệ họ hàng của ngôn ngữ này.
Vì vậy tiếng Việt lần lượt được xếp là có quan
hệ gần với những họ ngôn ngữ Môn-Khmer,
Miến-Tạng, Thái, để sau cùng được đưa vào họ Nam
Á
năm
1942 bởi Thomas A.
Sebeok (1920-2001
, rồi năm 1956
bởi
André-Georges Haudricourt
(Paris, 1911 - 1996).
Có thể tham khảo bài viết của G. Diffloth trong
Encyclopedia Britannica để biết các
ngôn
ngữ thuộc họ Nam Á.
 |
 |
 |
Henri Maspero |
André-Georges Haudricourt
|
Thomas A. Sebeok |
Haudricourt tiếp nối công trình của Maspero đã
giải thích một cách thuyết phục sự hình thành
của hệ thống thanh điệu trong tiếng Việt (1954)
và do đó phá bỏ cái rào cản trong việc truy tầm
quan hệ cội nguồn của tiếng Việt (đối với ngôn
ngữ Môn-Khmer không có thanh điệu). Nói tóm lại,
hai nhà ngôn ngữ học Maspero và Haudricourt đã
làm kẻ vạch đường trong việc phục nguyên những
trạng thái cổ xưa của tiếng Việt.
Bên cạnh tiếng Việt và những phương ngữ của nó
thì tiếng Mường, ngôn ngữ gần gũi nhất, đã phơi
bày ra những nét bảo lưu mà trên đại thể có thể
phản ánh một trạng thái cổ của tiếng Việt.Vì thế
nghiên cứu các ngôn ngữ Mường có tầm quan trọng
lớn đối với việc tìm hiểu lịch sử tiếng Việt.
Maspero trong công cuộc nghiên cứu ngữ âm lịch
sử tiếng Việt ngoài tư liệu chữ Hán còn sử dụng
số từ vựng mà Chéon đã thu góp được về tiếng
Mường Sơn Tây (1905) và các tiếng Nguồn, Sách,
Mường (1907). Ðịa bàn cư trú các dân nói tiếng
Mường (theo nghĩa rộng, tức là gồm các ngôn ngữ
thuộc nhóm Chứt) chạy từ Yên Bái, ở phía Bắc
không vượt qua Sông Hồng, đến tỉnh Quảng Bình ở
phía Nam, không quá Ðèo Mụ Giạ. Ở sườn Tây phía
Bắc xứ Mường là xứ Thái ; ở sườn phía Ðông là
khu cư dân người Việt. Ði vào phía Nam thì xứ
Mường dựa vào dãy Trường Sơn phía Tây, còn phía
Ðông thì dải đất hẹp chạy dài theo bờ Biển Ðông
là khu cư trú của người Kinh. Muốn hiểu thêm về
người Mường, xin đọc J. Cuisinier (1948) và Trần
Từ (1996).
Những ngôn ngữ cực Nam thuộc Nhóm VM được gặp
thấy ở cả hai bên dãy Trường Sơn gần Ðèo Mụ Giạ.
Ðó là tiếng Sách được Cadière nhắc đến năm 1905,
tiếng Mày và tiếng Rục do Vương Hoàng Tuyên phát
hiện năm 1963 tuy tên Rục đã được J. Cuisinier
nêu lên trong công trình của bà năm 1948. Các
nhóm Mày, Sách, Rục cư trú vùng thượng lưu Sông
Gianh được gom lại dưới danh gọi là dân tộc
Chứt. Theo Viện Dân Tộc Học (1978, tr. 86), Chứt
còn bao gồm cả các dân Arem và Mãliềng. Một số
từ vựng Khạ Mụ Giạ do A. Fraisse thu lượm
(1950), và Tắc Củi do Th. Guignard (1911) ghi
lại cho phép chúng ta định rằng hai ngôn ngữ sau
là cùng nhóm với các ngôn ngữ kể trước.
Với tiếng Hung và tiếng Không Khênh mà Mapero có
nhắc đến theo một bản viết tay của Guignard
(1907) và tiếng Toum hay Pong do Haudricourt
(1966) nêu lên theo bản chép tay của Fraisse,
chúng ta đối mặt với một nhóm phụ, tách biệt với
những ngôn ngữ vừa kể trên.
Cùng dựa theo một bản chép tay, Haudricourt đưa
ra một bảng từ Khạ Tong Luang được xem như đồng
ngôn ngữ với Khạ Tha Vung và Khạ Phon Soung mà
Ferlus (1979) đã ghi được ở Khammouane (Cam
Muộn, Lào).
Nhìn chung muốn phục nguyên một ngôn ngữ chung
cho tiếng Việt và tiếng Mường (theo nghĩa hẹp,
tức là không kể các ngôn ngữ thuộc nhóm Chứt ở
Quảng Bình) trước khi Việt và Mường tách thành
hai ngôn ngữ cá biệt vào khoảng thế kỷ IX, thì
ta dựa vào tư liệu thuộc tiếng Việt và tiếng
Mường Hoà Bình và Thanh Nghệ. Ta tạm gọi đó là
tiếng Việt-Mường chung.
Nhưng muốn tái lập một ngôn ngữ có truớc
tiếng Việt-Mường chung, gọi là Proto
Việt-Mường, nghĩa là tiếng mẹ của Việt,
Mường, và của những ngôn ngữ nhỏ nằm rải rác ở
Quảng Bình-Hà Tĩnh, bên này dãy Trường Sơn và cả
bên kia, thì việc đi thực địa để thu lượm bảng
từ, nhận diện các nhóm dân ít người quả là cần
thiết.
Nhìn một cách đại lược, những người khởi xướng
ra việc suy tầm cội nguồn của tiếng Việt là
những nhà ngôn ngữ học Âu Châu, dựa theo ngữ âm
so sánh. Công cuộc đi thực địa nhắm vào những
ngôn ngữ nhỏ và bảo lưu thuộc Nhóm VM như Arem
(76 dân), Rục (125 dân), Mãliềng (320 dân), Mày
(715), Sách (625) bị gián đoạn với cuộc chiến
tranh Ðông Dương thứ nhất (1947-1954). Lợi dụng
thời gian hoà bình 1954-1962, một số nhà dân tộc
học Việt Nam đã trở lại miền núi Quảng Bình để
khảo sát các nhóm dân ở đây. Năm 1963, Vương
Hoàng Tuyên cho xuất bản cuốn Các dân tộc
nguồn gốc Nam Á ở miền Bắc Việt Nam, rồi năm
1964 Mạc Ðường công bố cuốn Các dân tộc miền
núi bắc Trung bộ.
Kể từ 1978, Ðại Học Paris 7 và Trung Tâm Nghiên
Cứu Khoa Học Pháp (CNRS) qua nhà nghiên cứu
Nguyễn Phú Phong, và sau 1991 có Michel Ferlus
(CNRS) tham gia, đã hợp tác với Viện Ngôn Ngữ và
Ðại Học Tổng Hợp Hà Nội đi sâu vào hậu cứ Nghệ
Tĩnh và Quảng Bình để thu lượm tư liệu về ngôn
ngữ thuộc Nhóm VM. Kết quả là đã công bố một
cuốn từ vựng tiếng Rục (1988), một cuốn khảo sát
tiếng Nguồn (1997) và đóng góp một số bài tham
luận về Nhóm VM trong các hội nghị ngôn ngữ học
quốc tế, như bài Nguồn gốc thanh điệu ở Nhóm VM
(Ferlus, 2001). Về phía Việt Nam đã cho phát
hành hai chuyên luận về tiếng Rục (Nguyễn Văn
Lợi, 1993) và người Rục (Võ Xuân Trang, 1998).
Ðặc biệt, Nguyễn Văn Tài thuộc Viện Ngôn Ngữ Học
Hà Nội, năm 1982 đã bảo vệ luận án phó tiến sĩ
Ngữ âm tiếng Mường qua các phương ngôn.
Phụ lục II của luận án là bảng Từ vựng tiếng
Mường (So sánh gần 1000 từ ở 30 thổ ngữ). Ðó
là một tư liệu rất quí đáng được công bố. Nguyễn
Tài Cẩn, tác giả cuốn Nguồn gốc và quá trình
hình thành cách đọc Hán-Việt (1979) lại cho
ra mắt một Giáo trình lịch sử ngữ âm tiếng
Việt (1995).
Các nhà ngôn ngữ thuộc Viện Hàn Lâm Khoa Học
Liên Xô năm 1979 có gửi một phái đoàn qua Việt
Nam đi điền dã và kết quả là đã xuất bản một
chuyên luận về tiếng Mường khá chi tiết (Moscou,
1987). Phía Hoa Kỳ, hai chuyên viên về Mường là
Milton và Muriel Barker ngoài việc đăng mấy bài
tham luận về phụ âm đầu (1963) và cuối (1964)
của Proto-Vietnamuong, còn có soạn một tập từ
vựng song ngữ Mường-Anh, tiếng Mường ở đây chủ
yếu là Mường Khến do các tác giả ghi lại từ các
người Mường tỉnh Hoà Bình định cư ở Cao nguyên
Trung phần năm 1954. L. Thompson, tác giả cuốn
văn phạm tiếng Việt (A Vietnamese Grammar,
1965) nổi tiếng có thông báo bài nghiên cứu Ngữ
âm Proto-Viet-Muong (1971). G. Diffloth, giáo sư
Ðại Học Cornell, Hoa Kỳ, có viết bài tham luận
về thanh điệu tiếng Việt (1990), và tiếng Việt
như một ngôn ngữ Môn-Khmer (1991).
Trên đây tôi đã cố gắng điểm qua tình hình
nghiên cứu và thu thập tư liệu về Nhóm
Việt-Mường. Nếu còn sơ sót thì đó là lỗi tại
tôi, tại tầm hiểu biết của tôi còn khiếm khuyết,
và cũng tại một số vấn đề kỹ thuật như khuôn khổ
tờ báo, v.v.
Các ngôn ngữ, thổ ngữ nhỏ thuộc Nhóm VM nằm rải
rác dọc dãy Trường Sơn thuộc hai tỉnh Quảng Bình
và Hà Tĩnh có thể xem là di sản của Việt Nam và
cũng là của nhân loại. Nhưng ngôn ngữ, nhất là
ngôn ngữ chưa có chữ viết là những sinh vật rất
mong manh. Theo nhận xét của một Uỷ Ban Chuyên
Viên UNESCO (xem báo Le Monde 1/4/2003),
với nhịp độ tử vong từ 20 đến 30 ngôn ngữ mỗi
năm thì khoảng một thế kỷ nữa, 90% nguồn tài
nguyên kia sẽ biến mất. Trước tiên UNESCO phải
đối phó với vấn đề cần kíp là " sắp đặt một
cơ sở tài chính và hành chính giúp cho việc tập
trung và lập hồ sơ những tư liệu về các ngôn ngữ
chỉ còn vài người nói." Việc thu thập tư
liệu là cần thiết vì " đa số các ngôn ngữ có
nguy cơ tử vong có thể không lưu lại một dấu vết
nào khi biến đi. "
Riêng về phần Việt Nam thì công cuộc hiện đại
hoá đất nước tất yếu với việc thi công biến
đường mòn Hồ Chí Minh thành xa lộ có cơ nguy sẽ
đẩy lùi một số các dân tộc ít người thuộc Nhóm
VM vào dĩ vãng. Ðúng thế, đường Trường Sơn chạy
xuyên qua địa bàn cư trú của các tộc người thuộc
Nhóm VM (và một số dân tộc ít người khác), biến
đổi mạnh về sinh thái và có cơ thành thị hoá
vùng này. Ðịa bàn thi công của những người thợ
rừng làm đường nằm rải rác trên cả hai nhánh
Ðông và Tây Trường Sơn, đi qua địa phận các tỉnh
Hà Tĩnh, Quảng Bình (và Quảng Trị, Thừa Thiên-
Huế, Quảng Nam và Kon Tum). Với đà tiến hoá hiện
nay, e rằng không còn bao lâu nữa, các ngôn ngữ
như Arem, Mày, Rục, Mãliềng sẽ chỉ còn tồn dưới
dạng cổ vật làm đối tượng cho các nhà khảo cổ.
Thư mục giản lược
(Muốn có thư mục đầy đủ hơn, xem Ferlus 1974,
Nguyễn Phú Phong 1997, Nguyễn Tài Cẩn 1995)
Cuisinier, J., 1948, Les Mường. Géographie
humaine et Sociologie, Paris, Institut
d"Ethnologie.
Ferlus, M., 1974, Le groupe Viet-Muong, Asie
du sud-est et Monde insulien V,1,1974,
64-77.
Ferlus, M., 2001, The origin of Tones in
Viet-Muong, Southeast Asian Linguistic
Society XIth Conference, Bangkok, Thailand, May
16-18 2001.
Haudricourt, A.-G., 1953, La place du vietnamien
dans les langues austroasiatiques, Bulletin
de la Société de Linguistique de Paris 49,
1, 122-128.
Haudricourt, A.-G., 1954, De l'origine des tons
en vietnamien, Journal Asiatique 242,
69-82.
Mạc đường 1964, Các dân tộc miền núi bắc
Trung bộ, Hà Nội, Nhà xb Khoa Học Xã Hội.
Maspero, H., 1912, Etude sur la phonétique
historique de la langue annamite. Les initiales,
Bulletin de l'Ecole Française d'Extrême
Orient 12, 1, 1-127.
Nguyễn Phú Phong, Trần Trí Dõi, M. Ferlus, 1988,
Lexique Vietnamien - Rục - Français,
Université Paris 7 - Sudestasie.
Nguyễn Phú Phong, 1997, Le parler Nguồn,
Université Paris 7-Denis Diderot.
Nguyễn Tài Cẩn, 1995, Giáo trình lịch sử ngữ
âm tiếng Việt, Hà Nội, Nhà xb Giáo Dục.
Nguyễn Văn Lợi, 1993, Tiếng Rục, Hà Nội,
Nhà xb Khoa Học Xã Hội.
Nguyễn Văn Tài, 1982, Ngữ âm tiếng Mường qua
các phương ngôn. Luận án Phó tiến sĩ Ngôn ngữ
học, Hà Nội, Viện Ngôn Ngữ Học, UBKHXH Việt
Nam.
Trần Từ, 1996, Người Mường ở Hoà Bình, Hà
Nội, Hội Khoa Học Lịch Sử.
Viện Dân Tộc Học, 1978, Các dân tộc ít người
ở Việt Nam (Các tỉnh phía Bắc), Hà Nội,Nhà
xb Khoa Học Xã Hội.
Võ
Xuân Trang, 1998, Người Rục ở Việt Nam,
Hà Nội, Nhà xb Văn Hoá Dân Tộc.
Vương Hoàng Tuyên, 1963, Các dân tộc nguồn
gốc Nam Á ở miền Bắc Việt Nam, Hà Nội, Nhà
xb Giáo Dục.
Trích từ báo
Diễn Đàn số 136 (1-2004)
|