Giai thoại giải thưởng Nobel |
Vietsciences- Võ Thị Diệu Hằng 31/01/2008 |
1-
Những người
được giải trẻ nhất cho từng môn 1- Những người được giải trẻ nhất cho từng môn:
Vật lý: Sir William Lawrence Bragg 25 tuổi (1915)
Sinh lý học/Y khoa: Sir Frederick G. Banting 32 tuổi (1923)
Hoá học: Koichi Tanaka , 33 tuổi (2000)
Hòa bình: Rigoberta Menchü Tum 33 tuổi (1992)
Hóa học: Frédéric Joliot 35 tuổi, Irène Curie Joliot 38 tuổi (1935)
Vật lý: Marie Curie, Sklodowska 36 tuổi (1903)
Văn chương: Rudyard Kipling 42 tuổi (1907) 2- Những người được giải già tuổi nhất theo thứ tự
Kinh tế: Leonid Hurwicz (2007) 90 tuổi
Văn chương: Doris Lessing (2007) 88 tuổi
Sinh lý học/Y khoa: Francis Peyton Rous (1966) 87 tuổi
Sinh lý học/Y khoa: Karl von Frisch (1973) 87 tuổi
Vật lý: Vitaly L. Ginzburg (2003) 87 tuổi
Hòa bình: Ferdinand Buisson (1927) 86 tuổi
Văn chương: Theodor Mommsen (1902) 85 tuổi
Vật lý: Pyotr L. Kapitsa (1978) 84 tuổi
Hóa học: Charles J. Perdersen (1987) 83 tuổi
Sinh học: Oliver Smithies (2007) 82 tuổi
3- Tuổi trung bình cho mỗi môn
Hóa học: 54,24 tuổi Văn chương: 63,68 tuổi Hòa bình: 62,31 tuổi Sinh lý học/Y khoa: 55,88 tuổi Vật lý: 51,22 tuổi Trung bình tổng cộng: 57,46 tuổi 4- Những cặp vợ chồng cùng lãnh
Gia đình Joliot: Irène (con của Pierre và Marie Curie) và chồng là Frédéric Joliot chung chia giải Hóa học (1935)
Gia đình Curie: Pierre và Marie chung chia giải Vật lý năm 1903
Gia đình Cori: Karl Ferdinand và vợ là Gerty Theresa chung chia giải Sinh lý học/Y khoa năm 1947
Gia đình Myrdal: Gunnar lãnh giải Kinh tế năm 1974, vợ ông là Alva lãnh giải Hòa bình năm 1982
5- Sui gia cùng lãnh:
Marie Curie: lãnh giải Nobel Vật lý năm 1903 và Hóa học năm 1911,con rể là Frédéric Joliot lãnh giải Nobel Hóa học năm 1935
Heinrich Wieland : lãnh giải Nobel Hóa học năm 1927, con rể là Feodor Lynen lãnh giải Sinh lý học/Y khoa năm 1964
John Howars Northrop nhận giải Nobel Hóa học năm 1946 và con rể Frederic chapman Robbins lãnh giải Sinh lý học/Y khoa năm 1954
Alan Hodgkin lãnh giải Sinh lý học/Y khoa năm 1963, cha vợ ông Peyton Rous lãnh Sinh lý học/Y khoa năm 1966 6- Anh em cùng lãnh:
Gia đình Tinbergen: Jan lãnh giải Kinh tế năm 1969, em ông là Nikolaas được giải Sinh lý học/Y khoa năm 1973
7- Cha, mẹ, con cùng lãnh:
Gia đình Curie: Marie và Pierre Curie lãnh giải Vật lý năm 1903, Marie lãnh giải Hóa học năm 1911, con gái là Irène Curie lãnh giải Nobel Hóa học năm 1935
Với giòng họ Kornberg thì giải Nobel hơi giống chuyện gia đình, một gene đã truyền từ đời cha sang đời con. Cha, Arthur, được giải Nobel Y học năm 1959 nhờ những công trình trên ADN nhưng đã ảnh hưởng đến sự nghiệp của Roger, lúc đó chỉ mới 12 tuổi: Roger đã chọn học bộ môn rất gần với công việc của cha, ARN. Là giáo sư ĐH Stanford (Californie), ông vừa được giải Nobel Hóa học 2006 vì là người đầu tiên sáng tạo hình ảnh chứng minh sự sao chép gene nơi các eucaryote
Gia đình Bragg: Cha: William Henry và con William Lawrence cùng nhận giải Nobel Vật lý năm 1915
Gia đình Euler: Hans von Euler-Chelpin lãnh giải Hóa học năm 1929, con trai ông Ulf von Euler, lãnh giải thưởng Sinh lý học/Y khoa năm 1970
Gia đình Siegbahn: Mann Siegbahn lãnh giải Nobel Vật lý năm 1924, con trai là Kai Siegbahn lãnh giải Nobel cùng môn, năm 1981
Gia đình Bohr: Niels Bohr lãnh giải Nobel Vật lý năm 1922, con trai ông Aage Bohr lãnh giải Nobel năm 1975 cùng môn
Gia đình Thomson: sir Joseph Thomson, giải Nobel Vật lý năm 1906 là cha của sir George Paget Thomson, được giải Nobel Vật lý năm 1937
8- Tiếp tục được lãnh lần thứ hai
Marie curie: Giải thưởng Nobel Vật lý năm 1903 cùng chia giải với chồng bà, Pierre Curie và H. Becquerel vi tìm ra chất phóng xạ. Giải Nobel Hóa học năm 1911 cho sự khám phá chất Polonium và Radium
John Bardeen: Lãnh giải Nobel Vật lý năm 1956 cùng chia với W. H. Brattain và W. Shokley về việc hiệu chính transistor Germanium Lãnh giải Nobel Vật lý năm 1972 cùng với L. Cooper và J. R. Schrieffer về lỳ thuyết về chất siêu dẫn
Linus Pauling: Giải Nobel Hóa học năm 1954 vể những công trỉnh về tính chất các nối hóa học với những áp dụng cho cơ cấu các phức chất Giải Nobel Hòa bình năm 1962 cho cuộc đấu tranh theo sự hủy bỏ khí giới hạch tâm
Frederic Sanger : Lãnh giải Nobel Hóa học năm 1958 cho những công trình trên cơ cấu protéine và insuline Lãnh giải Nobel Hóa học năm 1980 chia với W. Gilbert vè sự đóng góp của họ cho việc định rõ những dây base trong acide nucléique
9- Tổ chức quốc tế :HCR Cao ủy liên hiệp quốc cho người tị nạn Nobel Hòa bình năm 1954 Nobel Hòa bình năm 1981
Hôi Hồng Thâp tự: Nobel Hòa bình năm 1917 Nobel Hòa bình năm 1944 Nobel Hòa bình năm 1963 10- Từ chối không lãnh:Tự nguyện:
Vì ép buộc chính trị:
|
Viết lấn đầu 10/2005, cập nhật 28/10/2006,
10/10/2007, 31/01/2008
© http://vietsciences.free.fr và http://vietsciences.org Võ Thị Diệu Hằng