|
Những bài cùng tác giả

Động từ - Verben - trong tiếng Đức là thành phần trong câu dùng để
diễn tả một hành động, một diễn biến hay một trạng thái nào đó.
Động từ diễn tả một hành động - Tätigkeitsverben:
Meine Mutter füllt einen Antrag aus - Mẹ tôi điền tờ
đơn
Die Kinder spielen mit dem Ball - Mấy đứa trẻ chơi banh
Ich esse einen Apfel - Tôi ăn một trái táo
Động từ diễn tả một diễn biến hay một tiến trình - Vorgangsverben:
Die Sonne geht auf und die Blumen blühen -
Mặt trời mọc và hoa nở
Die Zeit vergeht wie im Fluge - Thời gian qua như bay
Động từ diễn tả một trạng thái - Zustandsverben:
Die Schule liegt nicht sehr weit von hier - Trường
không xa đây lắm
Wohnen Sie in der Stadt? - Ông bà cư ngụ trong phố à?
Thật ra, rất khó phân biệt rành mạch động từ nào thuộc loại nào mà chỉ có thể
phân biệt tùy theo ý nghĩa trong câu (hay trong cả lời nói/bài viết) như chúng
ta đã làm quen qua khi đề cập đến Akkusativ và Dativ:
Ich sitze schon stundenlang neben meinem Vater - Tôi ngồi
cạnh cha tôi cả mấy tiếng rồi (động từ diễn tả trạng thái: giới từ neben
đi cùng Dativ)
Setz dich doch mal neben ihn! - Em hãy ngồi xuống bên
ông ta đi! (động từ diễn tả hành động: giới từ neben đi cùng
Akkusativ)
Đó chỉ là phân loại rất cơ bản theo ý nghĩa diễn tả của động từ trong tiếng
Đức. Thường gặp hơn là những cách giảng giải về động từ theo các khái niệm ngữ pháp thông
dụng, chẳng hạn như các hình thái của động từ - Verbformen, các dạng thể chỉ thời gian (thì) -
Zeitformen hay là
Tempusformen, các dạng thức dùng trong câu - Verbmodus,
các dạng thể của câu - Satzgenus, v.v. Trong loạt bài này chúng ta sẽ lần lượt làm quen
với chúng.
Hình thái động từ - Verbformen
Động từ tiếng Đức xuất hiện trong hai hình thái chính: hình thái bất định
(unbestimmte Verbformen) bao gồm các hình thái: động từ nguyên mẫu (Infinitiv),
động tính từ hiện tại (Präsenspartizip hay Partizip 1), động
tính từ quá khứ (Perfektpartizip hay Partizip 2), và hình thái
xác định (bestimmte Verbformen): ở đây động từ thay đổi hình thái tương ứng
với ngôi thứ của chủ từ và các thì, các dạng thức trong câu v.v.
Động từ nguyên mẫu - Infinitiv
Động từ nguyên mẫu lúc nào cũng mang phần đuôi -en hay -n:
laufen - đi, chạy, singen - hát, anfangen - bắt đầu,
häkeln - đan (móc), hämmern - nện (bằng búa). Nói
chung động từ nguyên mẫu mang phần đuôi -n khi phần gốc của nó tận cùng
bằng phụ âm l- hay r-. Vài ngoại lệ là động từ tun -
làm (ý nghĩa tương tự to do trong tiếng Anh), sein - là (ý
nghĩa và vai trò tương tự như to be trong tiếng Anh hay être trong
tiếng Pháp).
Người ta gọi phần đầu (không kể đuôi -en hay -n) là phần gốc (Verbstamm)
của động từ nguyên mẫu. Hình thái nguyên mẫu của động từ được sử dụng trong từ điển nên khi
tra cứu chúng ta phải để ý tìm dạng này.
Động từ
nguyên mẫu được sử dụng
- khi động từ đi cùng một động từ khác đã biến đổi hình thái cùng chủ từ:
ich sehe diese Gefahr kommen - tôi thấy
nguy cơ này sẽ đến (do đi cùng ich sehe mà kommen ở nguyên
mẫu)
- khi động từ đi cặp với giới từ zu (tương tự giới từ to
trong tiếng Anh hay các giới từ đòi hỏi động từ nguyên mẫu trong tiếng
Pháp):
ich versuche auf diese Gefahr aufmerksam zu machen -
tôi cố gắng gây sự quan tâm về nguy cơ này
- khi nói trỏng, nói vắn tắt hay muốn nhấn mạnh ý chính mà không dùng chủ
từ
Warum nicht essen gehen? - Tại sao lại không đi ăn?
(essen ở nguyên mẫu vì đi cùng gehen, gehen nguyên mẫu
vì nói trỏng)
Die Maßnahmen vorschlagen, ohne die Konsequenz zu erwähnen
- Đưa ra biện pháp mà không đề cập đến hậu quả
Động từ nguyên mẫu trong tiếng Đức còn thường được sử dụng như danh từ. Danh
từ được biến thành từ động từ nguyên mẫu ngoài việc được viết hoa ra (như tất cả
mọi danh từ khác) còn được nhận giống trung tính và hầu như lúc nào cũng ở số
ít:
Das Gelingen des Essens ist sehr wichtig - Sự thành
công của bữa ăn rất quan trọng
Động tính từ hiện tại - Partizip 1
Động tính từ (hay còn gọi là phân từ) là một hình thái động từ mà chủ yếu có thể được dùng như tính từ. Trong
tiếng Đức người ta phân biệt động tính từ hiện tại (Präsenspartizip) và động
tính từ quá khứ (Perfektpartizip). Động tính từ hiện tại - còn gọi là Partizip
1 - được biến thể từ động từ nguyên mẫu bằng cách thêm phần đuôi -d
vào nguyên mẫu:
laufen à laufend
singen à singend
Ngoại lệ: sein à seiend,
tun à tuend.
Động tính từ hiện tại được sử dụng như tính từ. Khi là tính từ,
động tính từ hiện tại cũng biến thể tùy theo Kasus như một tính từ thường
(xem các bài trước). Và cũng như một tính từ thường, nó còn có thể được dùng như
danh từ (và tất nhiên cũng biến thể như danh từ) hay với chức năng trạng từ (trong trường
hợp này thì không biến thể). Thí dụ:
der Mann singt - người đàn ông hát
(singt là động từ)
à
der singende Mann - người đàn ông đang hát (singende là tính
từ)
der Singende - cái ông đang hát (Singende là danh từ)
der Mann läuft und singt - người đàn ông
chạy và hát (läuft và singt là động từ) à
der Mann läuft singend - người đàn ông chạy khi hát (singend
là tính từ trong vai trò trạng từ)
der singende Mann läuft - người đàn ông đang hát chạy (singende
là tính từ)
der Singende läuft - cái ông đang hát chạy (Singende là
danh từ)
hay cũng có thể diễn tả ngược lại:
der Mann singt laufend - người đàn ông hát khi
chạy (laufend là tính từ dùng như trạng từ; laufend còn có nghĩa bóng là "thường" nên câu này còn có thể hiểu
là "người đàn ông thường hay hát")
der laufende Mann singt - người đàn ông đang chạy hát (laufende
là tính từ)
der Laufende singt - cái ông đang chạy hát (Laufende là
danh từ)
Động tính từ quá khứ - Partizip 2
Động tính từ quá khứ hình thành khi động từ được sử dụng ở thì
"quá khứ trọn vẹn" (Perfekt):
Susanne hat das Buch gelesen - Susanne đã đọc
quyển sách (rồi)
hay ở dạng thể thụ động (Passiv):
Die Tür wird geöffnet - Cửa mở ra
Chúng ta sẽ nói rõ hơn về thì Perfekt và dạng thể thụ động về
sau. Ở đây chỉ chú ý đến cách hình thành và sử dụng hình thái động tính từ quá
khứ.
Cách hình thành Perfektpartizipien
Người ta phân động từ tiếng Đức thành hai nhóm chính: động từ
yếu (schwache Verben) và động từ mạnh (starke Verben).
Nói chung, các động từ mạnh thường không theo một qui tắc nào nhất định khi chia
theo các thì. Các động tính từ quá khứ trọn vẹn (Perfektpartizip hay
Partizip 2) của các động từ mạnh cũng vậy, do đó mà chúng thường được ghi chú trong từ điển (bên cạnh
các dạng chính của thì hiện tại và thì quá khứ - Präteritum).
Động tính từ quá khứ của một động từ yếu được hình thành bằng
cách thêm phần cuối -et hay -t vào phần gốc của động từ:
machen à gemacht
öffnen à geöffnet
Động tính từ quá khứ của một động từ mạnh được hình thành bằng
cách thêm phần cuối -en vào phần gốc của động từ:
lesen à gelesen
singen à gesungen
Các thí dụ trên còn cho thấy: các động tính từ của các động
từ yếu hay mạnh còn được mang thêm phần đầu ge-. Nhưng điều
này chỉ đúng khi động từ nguyên mẫu được nhấn
giọng vào âm đầu: lesen, singen, machen,
öffnen, v.v. Ngược lại, những động từ không phát âm như vậy như:
studieren - học, nghiên cứu, krakeelen - um sùm, ầm
ỷ, verletzen - (làm) thương tích, tổn hại, überreichen
- đưa qua, chuyển giao, erraten - đoán ra v.v. không mang phần đầu
ge- trong động tính từ quá khứ: studiert, krakeelt,
verletzt, überreicht, erraten.
Ngoài ra, động tính từ quá khứ của các động từ mạnh thông thường
còn biến âm ở âm được nhấn mạnh (mà không theo một quy tắc nhất định nào rõ
rệt): singen à gesungen,
tun à getan, v.v. hay
nhận một dạng hoàn toàn khác như: sein à
gewesen.
Chúng ta sẽ quay lại những quy tắc này khi nói về cách chia động
từ.
Công dụng của Perfektpartizipien
Ngoài vai trò là thành phần của động từ (ở các thì quá khứ trọn
vẹn), động tính từ quá khứ còn mang công dụng tính từ. Tương tự như trường hợp
động tính từ hiện tại, các tính từ này có thể sử dụng như tính từ, tính từ biến
thành danh từ hay trạng từ. Thí dụ:
Susanne hat das Buch gelesen - Susanne đã đọc xong
quyển sách
Das gelesene Buch liegt auf dem Tisch - Quyển sách đã đọc xong nằm
trên bàn
Das Buch liegt gelesen auf dem Tisch - (ý nghĩa tương tự, với ngụ
ý nhấn mạnh là sách đã đọc xong)
Doch das Gelesene beschäftigt Susanne immer noch - Tuy vậy cái đã
đọc vẫn làm Susanne bận tâm
Sơ lược về các loại động từ
Trợ động từ - Hilfsverben
Trong tiếng Đức động từ có thể phải kết hợp với động từ khác để biểu hiện một
dạng thể chỉ thời gian (Zeitform) hay một dạng thể câu nào đó (Satzgenus,
chẳng hạn câu thụ động). Các động từ được dùng để kết hợp là các động từ: haben,
sein và werden. Lúc đó chúng không còn mang ý nghĩa ban đầu của chúng nữa:
haben
- có, được, sein - là, werden - trở thành.
| Peter schläft - Peter ngủ |
à Peter hat geschlafen -
Peter đã ngủ xong (trợ động từ haben) |
| Susanne kommt gleich - Susanne đến ngay |
à Susanne ist gekommen
- Susanne đã đến rồi (trợ động từ sein) |
| |
à Susanne wird morgen
kommen - Susanne sẽ đến ngày mai (trợ động từ werden)
|
| Peter öffnet die Tür - Peter mở cửa |
à Die Tür wird geöffnet
- Cửa được mở ra (trợ động từ werden) |
| |
à Die Tür ist geöffnet
- Cửa đang mở (trợ động từ sein) |
Như các thí dụ trên cho thấy, trong chức năng trợ động từ các động từ này đều
kết hợp với một động từ khác ở hình thái bất định: hoặc động tính từ quá khứ (Perfektpartizip),
hoặc nguyên mẫu (Infinitiv):
haben
sein |
} +
Partizip 2 |
(geschlafen) |
| (gekommen) |
| (geöffnet) |
| werden |
+ { |
Partizip 2 |
(geöffnet) |
| Infinitiv |
(kommen) |
Chúng ta sẽ có dịp bàn kỹ hơn về cách sử dụng trợ động từ ở phần sau.
Động từ tình thái - Modalverben
Các động từ: dürfen - được phép, können - có thể, có khả năng,
mögen - thích, müssen - phải, sollen - cần phải, nên,
wollen - muốn, là các động từ chủ yếu được dùng cùng với một động từ khác để biểu lộ
tình thái của hành động được diễn tả.
| Peter geht ins Kino - Peter
đi xem phim |
à Peter darf ins Kino gehen -
Peter được phép đi xem phim (động từ tình thái dürfen) |
| Susanne schwimmt gut -
Susanne bơi giỏi |
à Susanne kann gut
schwimmen
- Susanne biết bơi giỏi (động từ tình thái können) |
| Andreas spielt Tennis -
Andreas chơi quần vợt |
à Andreas will Tennis
spielen - Andreas muốn chơi quần vợt (động từ tình thái
wollen)
|
| |
v.v. |
Như các thí dụ trên cho thấy, nếu một động từ được bổ sung ý nghĩa bằng một động từ
tình thái đi cùng thì nó sẽ ở hình thái nguyên mẫu (mà không cần đến giới tự
zu):
dürfen
können
mögen
müssen
sollen
wollen |
} + Infinitiv (khỏi cần giới từ zu) |
(gehen)
(schwimmen)
(spielen) |
Ngoài ra, người ta còn thường dùng động từ tình thái để đánh giá hay bày tỏ
quan điểm của mình về chuyện đang
nói đến, chẳng hạn như:
Heute Abend dürfte es ein Gewitter geben - Tối nay chắc
hẳn có giông
Du kannst das Geld auch verloren haben - Cũng có thể chị bỏ
tiền đâu mất rồi
Er mag etwa vierzig Jahre alt sein - Ông ta khoảng chừng
bốn mươi tuổi
Der Junge soll sehr intelligent sein - Nghe nói thằng bé
thông minh lắm
v.v.
Các động từ khác có tác dụng trợ nghĩa hay chuyển nghĩa - Modifizierende
Verben
Bên cạnh các động từ tình thái nói trên còn có nhiều động từ khác cũng có tác
dụng trợ nghĩa hay chuyển nghĩa tương tự, nhưng vì không có tính cách động từ
tình thái thuần túy nên chúng cần có giới từ zu đi sau. Thí dụ:
| Peter geht jeden Montag zum
Sportplatz - Peter đến sân vận động mỗi thứ hai |
à Peter pflegt jeden Montag
zum Sportplatz zu gehen -
Peter thường hay đến sân vận động mỗi thứ hai (động từ trợ nghĩa
pflegen) |
| Susanne schläft - Susanne ngủ |
à Susanne scheint
zu schlafen
- Hình như Susanne ngủ (động từ trợ nghĩa scheinen) |
| Wenige der Schiffsbrüchigen überleben
- Một số ít người đắm tàu còn sống sót |
à Wenige der Schiffsbrüchigen
vermögen zu überleben - Một số ít người đắm tàu có khả
năng sống sót (động từ trợ nghĩa vermögen)
|
| |
v.v. |
Một ngoại lệ là động từ brauchen - cần, vừa có thể dùng với giới từ
zu và vừa có thể dùng như một động từ tình thái mà khỏi cần giới từ zu
theo sau:
Peter braucht nicht zu arbeiten / Peter braucht
nicht arbeiten - Peter không cần phải làm việc
©
http://vietsciences.org
và
http://vietsciences.free.fr
và http://vietsciences2.free.fr
- Tú Ân |