Bắc Kinh trở thành thủ đô của
nước Tầu từ năm 1420. Du khách viếng Trung Hoa từ hơn
500 năm qua đều hết lời khen ngợi kiến trúc độc đáo của
thủ đô này. Tác giả công trình kiến trúc thủ đô Bắc Kinh
ấy là người Việt Nam: Nguyễn An.
Bài viết này gồm các tiết
mục:
- Sơ lược giai đoạn lịch sử
Tầu Việt.
- Từ Yên kinh đến Bắc Kinh.
- Nguyễn An là ai?
- Công trình kiến trúc thành
Bắc Kinh.


Nhiều sử
gia Trung Hoa cho rằng ngày nay dân thành Bắc Kinh
nên làm lễ ghi ơn công trình sư Nguyễn An, người Việt Nam,
đã vẽ kiểuvà xây kinh đô Bắc Kinh với kiến trúc được công nhận là toàn
mỹ.
I. Sơ lược giai đoạn lịch sử
A: Sử Tàu
Sau khi đánh bại nhà Nguyên, Chu Nguyên Chương lập nên
nhà Minh từ năm 1368 và tồn tại được 277 năm (đến năm 1644).
Chu Nguyên Chương (Thái Tổ) làm vua từ 1368 đến 1398 bị
bệnh mất, lập cháu nội đích tôn là Chu Doãn Văn làm hoàng đế
(Huệ Đế). Các người con khác của Minh Thái Tổ không phục vị
hoàng đế trẻ này nên cử binh tranh ngôi. Triều thần hợp sức
giúp Huệ Đế trừ được hầu hết các ông chú của vua trẻ là Chu
vương Chu Túc, Tề vương Chu Loại Chi, Tương vương Chu Bách,
Đại vương Chu Quế, Đàn vương Chu Tiện. Chỉ trừ Yên vương Chu
Đệ, một thế lực mạnh nhất, là còn tồn tại.
Chu Đệ là người như thế nào?
Là con thứ tư của Minh Thái Tổ Chu Nguyên Chương cùng Mã
hậu, Chu Đệ sinh năm 1360, tướng mạo tuấn vĩ, đặc biệt có bộ
râu rất đẹp. Được phong làm Yên vương vào năm Hồng Vũ thứ 3
(năm 1370), lúc ông mới được 10 tuổi nhưng phải đơị đến năm
20 tuổi (1380) mới được lãnh đất phong, chính thức trấn giữ
Yên kinh (tên cũ của Bắc Kinh).
Chu Đệ nhanh trí, đa mưu, anh dũng quyết đoán, biết trọng
hiền đãi sĩ, được thủ hạ kính phục và suy tôn. Chiến công mà
vua cha khen ngợi không tiếc lời diễn ra vào năm Chu Đệ 30
tuổi. Bấy giờ Chu Đệ cùng Tấn vương Chu Phong được lệnh cất
quân đánh Thái úy Nãi Nhi Bất Hoa (Mông Cổ). Trong lúc Tấn
vương chần chừ vì sợ, một mình Chu Đệ dẫn quân vượt cửa Cổ
Bắc, tiến thẳng đến Di Đô Sơn. Nhờ Đệ biết lợi dụng thời cơ
xuất quân tấn công trong lúc tuyết băng phủ kín đất trời, đã
khiến Nãi Nhi Bất Hoa trở tay không kịp, phải nộp thành đầu
hàng.
Khi vua cha băng hà, biết Huệ Đế muốn tóm thâu quyền bính
về một mối, Chu Đệ giả điên nhưng trong bóng tối âm thầm
củng cố binh lực, chờ cơ hội. Khi nhà vua trẻ phải đối đầu
với nhiều thế lực, kinh thành lúc nào cũng rối loạn. Chu Đệ
giương cờ bình nạn, lấy danh nghĩa thảo phạt gian thần ngay
từ tháng 10 năm 1399 (năm đầu tiên của vua Huệ Đế, niên hiệu
Kiến Văn), nhưng kỳ thật là dấy binh làm loạn, cướp ngôi vua
từ tay cháu của mình. Đến năm 1402 , Chu Đệ tiến quân thẳng
vào kinh đô, bức Huệ Đế phải phóng hỏa thiêu hủy cung điện.
Chu Đệ chính thức lên ngôi vào tháng 6 năm 1402, xưng là
Minh Thành Tổ (Vĩnh Lạc).
Trong 4 năm khởi loạn, nhờ đám thái giám của Huệ Đế vốn
không phục quan lại triều đình trở cờ nội gián, Yên vương
Chu Đệ biết rõ nội tình ở kinh đô, một yếu tố then chốt để
quyết định thắng bại. Chu Đệ biết ơn đám thái giám này và
trọng dụng họ.
Trong số những thái giám được trọng dụng có Nguyễn An,
người Việt Nam. Nguyễn An được Minh Thành Tổ Chu Đệ giao cho
trách nhiệm chỉ huy công trình xây dựng kinh thành Bắc Kinh
từ năm 1404 và mãi đến 17 năm sau (1420) mới hoàn tất.
B- Sử Việt
Khi Minh Thành Tổ Chu Đệ lên ngôi, Hồ Hán Thương cử sứ
sang mừng, nhân thể xin nhà Minh phong tước cho. Vua nhà
Minh cử Dương Bột sang sứ nước ta phủ dụ, và phong cho
Thương làm An Nam quốc vương. Từ đấy, sứ thần nhà Minh sang
nước ta thường xuyên, chủ yếu là hạch sách, đòi cống nạp,
giữ phận chư hầu. Trong số cống nạp, theo lệ, nhà Minh bắt
xứ ta phải nạp cho họ các hạng người tài giỏi.
Đúng vào năm Nguyễn An lãnh nhận việc xây dựng thành Bắc
Kinh (1404), Hồ Hán Thương sai Phan Hòa Phủ đi sứ sang chầu
nhà Minh, dâng voi làm lễ cống.
Vì cha của Hán Thương là Hồ Quý Ly cướp ngôi nhà Trần
nhưng cha con họ Hồ khéo che dấu, ban đầu bịt mắt được sứ
nhà Minh nhưng sau triều Minh đã biết rõ thực hư, muốn gây
việc binh đao.
Vào mùa xuân năm 1405, Minh Thành Tổ sai sứ sang nước ta
đòi lại đất mà họ nói là ta đã chiếm của họ. Nguyên trước
đây khi Hồ Quý Ly mới cướp ngôi, Hoàng Quảng Thành, thổ quan
châu Tư Minh, tâu với vua Minh rằng Lộc Châu nguyên là đất
cũ của châu Tư Minh, bị An Nam lấn chiếm. Vua Minh cho sứ
sang đòi đất này nhưng Quý Ly không nghe. Đến nay (1404),
Minh Thành Tổ lại sai sứ sang ta đòi lại đất ấy. Bấy giờ cha
con Quý Ly sai Hành khiển Hoàng Hối Khanh làm cát địa sứ (sứ
thần có trách nhiệm cắt đất). Hối Khanh bèn cắt đất của 59
thôn ở Cổ Lâu dâng cho nhà Minh.
II. Từ Yên Kinh đến Bắc
Kinh
Hai cha con Chu Nguyên Chương và Chu Đệ đều lấy đất dấy
nghiệp đặt làm kinh đô.
Cha thì chọn Nam Kinh (nay thuộc Giang Tô), vốn là cố đô
của Lục triều và Nam Đường xưa kia, làm kinh đô. Với Chu
Nguyên Chương, biến cố năm 1356 khi ông đem quân đánh chiếm
Nam Kinh, tỏ lộ chí lớn cho bàn dân thiên hạ biết, tự xưng
là Ngô Quốc Công. Từ đây, Nam Kinh trở thành đại bản doanh
để ông phát triển lực lượng, từ đó dựng nên nghiệp đế. Nam
Kinh được làm thủ đô nhà Minh ngót 50 năm.
Con thì chọn Yên kinh bởi vì đây là đất phong của Chu Đệ.
Từ đây lực lượng chủ lực của Chu Đệ được hình thành. Chiến
công diệt Mông hiển hách của Chu Đệ cũng được xuất phát từ
địa bàn này và qua mấy chục năm liền khổ công vun đắp, không
còn nơi nào sánh bằng. Thứ đến, việc Chu Đệ dời đô về Yên
Kinh còn có chủ đích làm giảm thế lực của Huệ Đế, vị vua trẻ
mới bị mất ngôi và không biết sống chết như thế nào. Cuối
cùng, ở vào giai đoạn lịch sử này, Tầu còn đang phải đối đầu
với Mông Cổ ở phương Bắc, Nam Kinh nằm xéo về phía Nam trong
khi Yên kinh nằm về phương Bắc nên có nhiều ưu thế hơn.
Muốn dời đô, trước hết phải di dân. Đó là việc Chu Đệ làm
trước hết, ngay sau khi lên ngôi. Vào năm 1403, đổi Yên kinh
thành Bắc Kinh. Đến năm 1404 giao cho Nguyễn An làm tổng
kiến trúc sư xây dựng thủ đô Bắc Kinh đến 17 năm sau (1420)
mới hoàn tất. Từ đó đến nay Bắc Kinh luôn được chọn làm thủ
đô của nước Tầu. (Cụm từ “kiến trúc sư” thật ra chỉ mới có
kể từ khi giao tiếp với Tây Phương, vào thời khởi công xây
thành Bắc Kinh, Nguyễn An là người vẽ kiểu và chỉ huy công
việc xây cất.)
III.
Nguyễn An là ai?
Xin bấm vào đê đọc
tiểu sử Nguyễn An
IV. Công trình kiến trúc
Bắc kinh:
Kiến trúc sư trưởng Nguyễn An hoạch định việc xây dựng
Bắc Kinh gồm 1 vòng thành hình chữ nhật bao quanh cả kinh
thành, về hướng Bắc thu nhỏ hơn đại đô 2 km, trái lại về
phía Nam thì rộng hơn 1/2 km. Toàn thành có 9 cổng, có 3 lớp
vòng thành (tam trùng thành quách).
So với Nam Kinh và các kinh thành trước đó của Tầu, hình
dáng của Bắc Kinh biến từ vuông vức ra chữ nhật (biến dạng).
Sự thay đổi này được đánh giá là do người vẽ kiểu (Nguyễn
An) chịu ảnh hưởng tất nhiên của kiến trúc Việt Nam (từ
thành Cổ Loa, được xây vào thời An Dương Vương (257-207
trước Công nguyên), có 3 vòng thành).
Một số ghi nhận: Thời Ân Thương, An Ấp là kinh thành (còn
gọi là An Dương, nay thuộc Hà Nam), Cảo Kinh đời Chu, Hàm
Dương đời Tần, Nam Kinh đầu triều Minh đều được xây bọc
quanh bằng 1 hoặc 2 lớp vòng thành. Đến các thời sau kế
tiếp, quy hoạch của kinh thành Tầu dựa theo nguyên tắc “tiền
triều, hậu thị” (cung điện triều đình phía trước, chợ búa
phía sau), thuờng cấu trúc hình vuông.
Công trình kiến trúc đô thành Bắc Kinh được tiến hành
như sau:
-
Năm 1404, xây thành quách bao quanh Hoàng thành và
Đại nội, mở ra 4 cửa: Ngọ môn, cửa chính ở mặt thành
Nam, Thần Vũ môn ở phía Bắc, Đông Hòa môn và Tây Hòa môn
2 hai bên. Phía trong Ngọ môn lát đá một quảng rộng hình
vuông, giữa đào một con sông uốn khúc (sông Kim Thủy),
trên có 5 cây cầu bắc qua đều mang tên chung là Kim Thủy
Kiều.
-
Từ năm 1406 đến 1420, kiến trúc đại nội gồm cung
điện, nghi môn, đường sá, sân, vườn hoa, cung thất.
Hoàng cung hay Cố cung được khởi công vào 1406 và trùng
tu vào thế kỷ 16, 17 và 19. Các hoàng gia 2 triều Minh Thanh
thay phiên nhau trú ngụ tại đây cho đến năm 1924. Khu này
nay là Bảo tàng viện quốc gia.
Tử Cấm Thành được xây theo hình chữ nhật, diện tích 720
ngàn mét vuông, được bao quanh bằng 1 bức tường cao 7 mét và
1 hào rộng. Đông Hòa và Tây Hòa môn gồm 3 cửa 4 vòng cung,
nhưng nằm lệch sâu xuống phía Nam, mở lối cho bá quan văn võ
vào cung điện hành lễ. Bốn góc kinh thành đều có xây vọng
lâu, nơi các đội ngự tiền thị vệ trú đóng, canh gác. Thiên
An môn có một quãng sân dài, nơi thường được dùng làm nơi
thao diễn hay duyệt binh (Trung Cộng nay vẫn dùng Thiên An
môn). Đoan môn phân đôi sân rộng thênh thang này thành 2
phần không đều nhau: ngoài hẹp hơn, phần rộng nằm bên trong
kéo dài tới Ngọ môn, cổng chính của kinh thành.
Dĩ nhiên cổng này được xây công phu nhất gồm 3 lâu thành
kết hợp lại theo hình chữ U, bắc qua hào nước rộng. Như vậy
ngoài lâu thành ở giữa xây 9 gian và nóc 2 mái chồng lợp
bằng ngói tráng men vàng như các cổng khác, Ngọ môn cũng có
cột, vách gỗ, cửa sơn son, đà son xanh vàng tím. Ngọ môn còn
được thêm 4 vọng lâu hình vuông nằm ở 2 đầu cánh chữ U, nối
nhau bằng dãy trụ lợp một mái. Sân trước Ngọ môn rộng 600
mét. Đây là Đại Nội, có tường xây thấp chỉ 2 mét. Giữa sân
Đại Nội lát đá là Kim Thủy hà uốn khúc ngăn đôi, hai vách bờ
được cẩn đá hoa. Muốn qua lại, phải dùng các Kim Thủy Kiều.
Những chiếc cầu ở giữa dẫn vào chính lộ đưa thẳng đến cầu
thang lên sân thượng Thái Hòa môn. Đây là nơi chỉ dành cho
hoàng để sử dụng. Các cầu hai bên cho các quan văn võ
(theo thứ bậc). Tả hữu đôi bên được đóng lại bằng 2 dãy
trụ chỉ chừa 2 của Đông, Tây mở ra Thái Miếu. (Thái Miếu
phía Đông cũng được Minh Thành Tổ giao cho Nguyễn An xây
dựng vào năm cuối đời của ông). Trước cổng Thái Hòa có 2
tượng lân lớn, ngồi trên 2 bệ đá, lâu nay vốn được xem là
biểu tượng cho Tử Cấm Thành. (Lân đực đạp 1 chân lên cái
banh tròn tượng trưng cho uy quyền nhà vua bao trùm hoàn vũ.
Lân cái đạp 1 chân lên lân con tượng trưng cho quyền cai
quản tam cung lục viện. Từ biểu tượng này, các nhà bói toán
Tầu ứng dụng vào dân gian, biến thành biểu tượng trừ tà, yểm
quỷ còn phổ biến cho đến ngày nay).
Tử Cấm Thành có 3 cầu thang dẫn lên cầu cung môn hai mái
chồng lên 9 gian, mà gian giữa rộng nhất. Từ đây giăng ra
bên 2 dãy trụ dài đến 2 vọng lâu. Cầu thang giữa tuy cũng mở
rộng hơn cho tương xứng với gian giữa nhưng lại được phân ra
2 bên xây các các bậc thang chỉ vừa đủ chỗ cho các phu
khiêng kiệu (vua) đi, chừa hết bề rộng còn lại để cẩn nguyên
tảng cẩm thạch trắng chạm rồng mây, dựng thành thang xiêng,
để xa giá của nhà vua lên xuống. Từ đây vào Đại Nội, tất cả
các nghi môn, cung điện chính đều được thực hiện 3 cầu thang
lên xuống tạo thành Long đạo (lối đi dành riêng cho nhà
vua) lát Hán bạch ngọc, băng qua các sân, xuyên suốt Cố
Cung, nằm trên trục chính Bắc Nam của Tử Cấm Thành.
Đại Nội được chia làm 2: phía Nam gọi là Triều Ngoại dùng
làm nơi tiếp xúc với bên ngoài (còn gọi là Tiền Triều), phía
Bắc nằm bên trong dành riêng cho hoàng gia, quen gọi là Nội
Đình (cũng còn được gọi là Hướng Đình).
Triều Ngoại gồm 3 điện lớn nhất, xây trên 3 tầng sân
thượng với những lan can lát Hán bạch ngọc. 3 điện này thời
Minh mang tên: Phụng Thiên, Hòa Khải và Cần Thân. Thời Thanh
đổi thành: Thái Hòa, Trung Hòa và Bảo Hòa.
Sân bao quanh khu Triều Ngoại được lát bằng 15 tầng gạch
đá xếp chéo nhau, trên cùng là đá trắng nổi tiếng của xứ Yên
Sơn được cắt thành hình chữ nhật. Cả 3 sân của 3 điện này
không có 1 bóng cây vì sợ thích khách lợi dụng tàng cây để
ám hại nhà vua. Sân triều giữa Thái Hòa môn Thái Hòa điện
rộng tới 180 mét. Vào những ngày lễ lớn hoặc lúc vua lâm
triều, bá quan văn võ đứng xếp hàng sẵn thành 18 nhóm, tùy
theo phẩm trật: nhất phẩm ở trong cùng, cửu phẩm ngoài bìa.
Thái Hòa điện xây trên 3 tầng sân thượng, được cẩn và
dựng lan can chạm trổ bằng loại Hán bạch ngọc loại tốt nhất
và lợp 2 tầng mái bằng ngói lưu ly tráng men nhũ vàng. Đây
là cung điện cao rộng nhất của Tầu, được xây 1 tầng mái ngói
và 2 tầng nóc, chỉ có vua mới được ở, dân quan chỉ được phép
xây nhà cửa, dinh thự gồm 1 tầng nền, 1 tầng mái mà thôi.
(Triều đình lại còn quy định dân thường được cất tối đa 3
gian, quan lại thì 5 gian. Bậc vương hầu, thừa tướng mới
được 7 gian). Ngay gian giữa của điện, hơi lùi vào bên trong
1 tí, có 6 cây cột lớn thếp vàng, chạm rồng nổi quấn quanh
chầu ngai vàng của nhà vua. Ngai vàng được làm bằng gỗ quý
sơn mài mạ vàng, trang hoàng 9 con rồng chạm thật lộng lẫy
để trên 2 lần sập: sập nhỏ thếp vàng để ngay giữa sập lớn
bảy bậc trải thảm, ngụ ý cho đủ cửu trùng (9 bậc). Phía sau
ngai vàng dựng 9 bức bình phong chạm rồng ghép lại tạo thế
như ôm đỡ ngai vàng đúng theo thế “Cửu long hộ thể”. Hai bên
còn chưng tượng hạc chầu, voi mang độc bình. Trước mặt chưng
4 lư hương lam ngọc kê trên đôn gỗ 5 chân chạm trổ, đặt giữa
2 lan can, để phân các bậc thang ra làm 3, phần rộng nhất ở
giữa dành cho nhà vua, hai bên hẹp dành cho thái giám hay
cận thần lên xuống. Tượng hạc, voi, độc bình, lư hương tượng
trưng cho trường thọ và phúc lộc may mắn. Trên ngai vàng có
gắn minh kính, phản chiếu toàn bộ ngai vàng, tượng trưng cho
quang minh chính đại. Từ Minh Thành Tổ đến Phổ Nghi cuối đời
Thanh, các vua thiết triều và cử hành đại lễ tại Thái Hòa
điện.
Trung Hòa điện nằm trên khoảng hẹp ở giữa nền sân thượng
3 tầng, chỉ lợp 1 lớp mái như tòa điện trung gian nối liền
hai đại điện nằm trước và sau. Nội điện cũng đặt ngai vàng
nhưng đơn giản hơn. Nơi đây dùng để vua tiếp sứ các nước và
các quan đại thần. Trung Hòa điện cũng là nơi nhà vua nghỉ
giải lao, thay y phục mỗi khi ra vào Thái miếu cúng các bậc
tiên vương. Sân trước Trung Hòa điện còn được dùng làm nơi
các quan chức đặc trách việc nông tang chưng các nông cụ
cũng như hạt giống vào mỗi đầu mùa.
Bảo Hòa điện giống Thái Hòa điện hơn. Nơi đây cũng có
ngai vàng sơ sài, được dùng để nhà vua bày tiệc đãi quốc
vương các nước chư hầu, sứ giả, các vị hoàng thân quốc thích
và văn võ quần thần. Đến đời Thanh, Bảo Hòa điện còn được
dùng làm nơi mở các cuộc thi tuyển chọn quan chức để sung
vào viện Hàn Lâm.
Nội Đình cũng có 3 cung điện nằm trên trục chính được
thiết kế tương tự như 3 tòa đại điện ở Triều Ngoại nhưng
kích thước nhỏ hơn và chỉ được xây trên 1 tầng sân thượng,
nằm gọn lọt vào phía sau 1 sân vuông hẹp hơn sân trước. Các
dãy trụ lang bao quanh 4 mặt sân với cổng lớn ở hướng Nam, 3
cổng nhỏ ở các mặt Đông Tây và 2 cửa phụ thông qua lục viện
ở hai bên. Sau khu này là lối thông vào vườn thượng uyển.
Bước trên những bậc thang của điện Thái Hòa, đi dọc xuống 2
bên thang xiêng dành cho kiệu vua di chuyển, thưc hiện bằng
nguyên tảng Hán bạch thạch có chạm ngũ long tranh châu uốn
khúc trong các đám mây. Tiếp tục đi qua sân đá hẹp, trải
rộng theo chiều ngang, ngăn 2 khu Triều Ngoại và Nội Đình,
bước lên sân thượng để vào cổng chính: Càn Thanh môn với 2
dãy tường dày mầu đỏ tía, dưới có đế, trên lợp mái ngói
vàng. Qua cửa Càn Thanh này là 3 tòa hậu điện xếp thành hàng
chữ nhất: Càn Thanh cung là tẩm cung của các hoàng đế triều
Minh và các vua Thuận Trị triều Thanh.
Trên đây là một số tài liệu sưu tầm và tổng hợp nhằm soi
sáng một công trình kiến trúc mà bấy lâu nay bị bụi thời
gian phủ kín.
Đặc biệt bài viết này được nhiều thân hữu yêu cầu để phần
nào trả lời cho luận điệu thưc dân văn hóa Tầu cho rằng
người Việt Nam không có kiến trúc riêng mà chỉ “bắt chước”
Tầu mà thôi.
|