“Tôi sinh ra và lớn lên ở ngõ Phất Lộc,
trông ra bờ sông Nhị Hà. Ngõ rộng độ hai
thước, dài độ hai trăm thước, mươi căn nhà dồn vào ngõ
hẹp thấp hơn mặt đường đến một thước mà ngày
cũng như đêm đều tối om om. Đã không có gì
đẹp lại còn bẩn thỉu nữa… Bên ngoài, trên
đường Bờ Sông, gần ngõ Phất Lộc có một cái
đình không biết thờ vị thần nào mà kiến trúc
rất đơn sơ. Hai cánh cửa gỗ luôn đóng kín,
trên mái cổng tam quan có đắp một bầu rượu
khá lớn nằm giữa hai con rồng uốn khúc châu
đầu vào. Thuở bé, tôi được theo bà ngoại vào
đình mấy lần, tôi thấy bên trong là một
khoảng sân rộng vắng ngắt. Tuy vậy, mà quang
cảnh lạnh lẽo trầm mặc thâm u của ngôi đình
bỗng nhiên len sâu trong tâm tư tôi những
khi ngồi học trong lớp, hoặc những khi tôi
đến chơi nơi nào đông vui là tôi lại chạnh
nghĩ đến ngôi đình, nhớ đến bà ngoại tôi.
Nhất là sau ngày cha tôi và bà ngoại tôi
vĩnh viễn ra đi trong cái ngõ hẹp tối tăm
ấy...”
Bút danh Lộc Đình tôi dùng ký dưới một
bài văn ngắn từ hồi trẻ… Lộc là ngõ Phất
Lộc, còn Đình là cái đình ấy…
Cái ngõ Phất Lộc đã từng có mặt trong văn
Nguyễn Huy Tưởng, Nguyễn Tuân, Tô Hoài...
Cái ngõ Phất Lộc chắc bây giờ chẳng còn mấy
dáng dấp của 70 năm trước, khi người kể
những hồi ức trên rời quê hương vào Nam lập
nghiệp. Đó là một buổi trưa ngày rằm tháng
Chạp năm Giáp Tuất, trời u ám, mưa phùn lất
phất và lòng người đi buồn vô hạn. Điều buồn
tiếc hơn nữa là, cho đến lúc nhắm mắt xuôi
tay, nhà văn, nhà văn hóa Lộc Đình Nguyễn
Hiến Lê cũng không có dịp nào được trở về...
Bây giờ thì ở thành phố Hồ Chí Minh đã có
một đường mang tên Nguyễn Hiến Lê để tưởng
lệ những đóng góp của ông với văn hoá dân
tộc. Bây giờ thì sách của đã được tái bản
với lượng in hàng vạn bản, xếp đầy các giá ở
những hiệu sách lớn. Nhưng hình như rất
nhiều người Hà Nội vẫn còn chưa được biết
ông chính là đứa ở của đất Kẻ Chợ Thăng Long
và tên tuổi ông gắn chặt một với cái ngõ nhỏ
thân yêu tự thuở thơ ấu. Ngày 22/12/2004 là
kỷ niệm lần thứ 20 ngày mất nhà văn gốc Hà
Nội - Lộc Đình Nguyễn Hiến Lê. Sinh năm
1912, cùng năm với Hàn Mạc Tử, Vũ Trọng
Phụng, Nguyễn Huy Tưởng, nhưng hình như định
mệnh đã ưu ái với ông hơn, ông đã được sống
và làm việc cách đều đặn, vì chỉ mất vào năm
1984, vì tuổi già. Song ở một khía cạnh
khác, hình như định mệnh lại cũng thách ông,
như một nhà văn đã viết: trong làng văn nước
nhà, có lẽ không ai dự bị vào nghề lâu như
anh: trên mười năm trời...". Cả một thời
gian rất dài, mặc dù sách ông làm ra đã ấn
hành rất nhiều, tên tuổi ông vẫn không mấy
được nhắc đến. Trong cuốn Từ điển văn học,
hai tập, hàng nghìn trang in khổ lớn, xuất
bản 1984, không thấy một dòng nào dành cho
ông. Riêng ở Hà Nội, mươi năm trở lại đây,
khi hàng loạt sách của ông được bản, người
đọc bình thường mới dần làm quen với tên một
nhà văn, một học giả: Nguyễn Hiến Lê và có
lẽ cũ còn rất ít ai biết nhà văn vốn sinh ra
và trưởng thành tài từ Hà Nội.
Một lần, vào năm 1978, một nhà văn trẻ,
trong khu tài liệu cho một cuốn tiểu thuyết
lịch sử về thành Thăng Long, đã vào Sài Gòn,
tìm đến tận nhà thăm ông và xin được ông chỉ
giáo. Qua câu chuyện khá dè dặt của một con
người thận trọng, trầm tĩnh, nhà văn trẻ
được biết ông đang cố gắng để hoàn thành một
sự nghiệp với khoảng một trăm tên sách với
trung bình 800 trang bản thảo đều đặn mỗi
năm, như một người bạn gần gũi, ông đã viết
trong một chân dung văn học, toàn bộ tác
phẩm của ông ước đến mấy mươi nghìn trang
in. Nào bút ký văn học. Nào khảo luận. Nào
nghiên cứu. Nào dịch thuật... Một sức lao
động thật kinh ngạc và đáng cho bất cứ một
ai cũng phải kính trọng, khâm phục.
Và đó là những cuốn sách như thế nào?
Hãy đơn cử mấy cuốn Khổng Tử, Mạnh Tử, Hàn
Phi Tử, Đại cương triết học Trung Quốc vừa
ra gần đây. Với số lượng in đến mấy nghìn
bản, và chắc chắn không phải là dễ đọc lắm,
vậy mà trên những quầy sách lớn Thủ đô, chỉ
bày chưa đầy ba tuần đã không dễ còn tìm mua
được. Còn đến lượt cuốn Liệt tử - Dương
tử... “Từ trước tới nay chưa có một học giả
nào, cựu học và tân học, mà có công giới
thiệu Cổ học Trung Hoa bằng ông Nguyễn Hiến
Lê" - một nhà văn đã nhận xét.
Nhưng ông đâu chỉ am tướng triết học hay
riêng triết học phương Đông. Để có một khái
niệm nào đó về nhận thức uyên bác và biên độ
sáng tạo của ông trong nhiều lĩnh vực tưởng
chừng khá xa nhau, ta thử lướt qua một vài
tên sách trong danh mục rất dài gắn với tên
tuổi, với thành quả lao động của ông.
Tôi tập viết riêng Việt. Khảo luận về ngữ
pháp Việt Nam.
Hương sắc trong vườn văn. Trên đường thiên
lý. Tổ chức công việc theo khoa học. Đắc
nhân tâm, bí quyết để thành công. Xung đột
trong đời sống quốc tế. Bảy bước thành công.
Gương kiên nhẫn. Đông Kinh nghĩa thục. Đại
cương văn hợc sử Trung Quốc. Nho giáo: một
triết lý chính trị. Đại cương triết học
Trung Quốc (viết chung với Chi). Sử ký Tư Mã
Thiên (dịch chung với Giản Chi). Lâm Ngữ
Đường: Một quan niệm sống đẹp. Dịch
L.Tônxtôi: Chiến tranh và hoà bình. Dịch bộ
lịch sử văn của Will Durant với các tập quan
trọng nhất như: Văn Trung Hoa, Văn minh Ấn
Độ, Văn minh Ả Rập, Bài học lịch sử.
Từ cổ đại đến hiện đại. Từ Tây sang Đông.
Từ văn học đến triết học. Từ ngôn ngữ học
đến sử học. Từ nghệ thuật là đến nghệ thuật
kinh doanh. Cả về Đông y, về Tử vi, Dịch lý,
về Địa lý phong thuỷ... Tưởng như không một
lĩnh vực nào ông không quan tâm. Ông xứng
đáng là một nhà bách khoa uyên bác đáng tin
cậy. Có lẽ, thấm sâu những tư tưởng Lão -
Trang, ông đã cố để cho đời đừng biết đến
mình. Ông sống lặng lẽ, làm việc lặng lẽ, cố
đem những gì tiến bộ nhất trong tư tưởng,
trong khoa học là mình hiểu biết để giúp đỡ.
Và lý tưởng của nhà văn đơn giản chỉ vậy
thôi. Như một người bạn của ông kể lại, cứ
xét lối làm việc thì ông là người mới? Có tổ
chức, có phương pháp như một nhà khoa học,
nhưng xét về lối sống, lối cư xử thì ông là
một người cổ: thanh bạch, giản dị, chỉ ưa
sách và hoa, ghét sự ồn ào, nhất là ồn ào
của danh vọng, tính tình có vẻ hơi nghiêm,
đối với bạn bè thì chân thành nhưng đượm vẻ
đạm bạc của nhà nho... Cũng có lẽ, vì thế,
mà cho đến nay, sự nghiệp của ông lớn lao là
thế, hữu ích là thế mà hầu như vẫn nằm trong
khuất lấp. Có cả một công trình của nhà
nghiên cứu in về ông, những chân dung do họ,
do học trò, đồng nghiệp ông viết lại, trân
trọng, kính phục.
Một lần, ông tâm sự: 'Tất nhiên ai
viết thì cũng mong sách bán được, tôi đã
sống chuyên về cây viết thì lại càng không
thể bỏ qua phương diện đó. Nhưng có những
cuốn tôi biết rằng bán sẽ rất chạy mà không
khi nào tôi viết. Lại có những cuốn tôi biết
chắc rằng không bán được mà tôi vẫn bỏ ra
mấy năm để viết... Điều quan trọng là ta
phải thành thực với mình. Và chưa bao giờ
tôi viết một cuốn sách nào mà không thành
thực với tôi, mà không thích nó, không tin
rằng nó có ích” Tưởng không có lời nào
chính xác hơn về ông.
Từ rất lâu, tên tuổi Nguyễn Hiến Lê
(1912-1984) đã được nhiều người biết tới như
một nhà văn, một học giả, một nhà giáo dục
và hoạt động văn hóa độc lập, với 120 tác
phẩm biên soạn và dịch thuật để đời có giá
trị, thuộc đủ mọi lãnh vực khác nhau như
giáo dục, văn học, ngữ học, triết học, lịch
sử, du ký... Ngoài ra, thế hệ hậu bối còn
noi gương được ở ông nhiều thứ: gương tự
học, tinh thần làm việc nghiêm túc, và nhất
là nhân cách cao thượng của một người trí
thức chân chính.
Ông Nguyễn Hiến Lê không trực tiếp làm
chính trị, nhưng lúc nào cũng đau đáu lo
việc cho đời, bằng cách thế hoạt động của
riêng mình. Ông tin ở các giá trị văn hóa
như một yếu tố sức mạnh tinh thần có ý nghĩa
quyết định cho tương lai của dân tộc hơn là
những hành động chính trị nhất thời, nên đã
tận tụy làm việc cho đến ngày nhắm mắt xuôi
tay, tìm mọi cách lay động trái tim con
người nhằm phổ biến và cổ vũ cho những ý
tưởng nhân bản thâu góp từ đông tây kim cổ
mà ông thấu hiểu và đề nghị mọi người chia
sẻ như là căn bản của một nền chính trị bền
vững khả dĩ mang lại cuộc sống phát triển
trong ổn định và ấm no hạnh phúc của nhân
dân.
Đời sống bản thân ông khiêm tốn, giản dị,
làm việc nhiều hưởng thụ ít, không thích ồn
ào, nhưng tư tưởng, tâm hướng và lòng ông
thì thật sâu kín, rộng rãi, nồng nàn, có lẽ
vì thế mà viết ra điều gì cũng với lời văn
giản dị, dễ hiểu, trung thực với ý mình. Ông
luôn đứng về phía nhân dân lao động nghèo
khổ mà cả một thời thơ ấu hàn vi ông đã từng
chia sẻ, nên đã mạnh dạn phê phán những hành
vi sai trái của các nhà đương cuộc mà ông
luôn quy trách nhiệm chính cho những tình
trạng suy bại xã hội của mọi thời. Trước sau
ông không xu phụ, thỏa hiệp với giới cầm
quyền đương thời để được hưởng những đặc
quyền trong xã hội. Mặc dù vậy, tâm huyết
của ông cũng không được đời đáp ứng là bao,
nên không tránh khỏi có những lúc phải ngậm
ngùi chua xót cho sự bất lực của mình trước
thời cuộc. Tâm sự của ông có lẽ cũng giống
như Tô Thức, một tác giả Trung Quốc ông yêu
thích mà có lần ông đã dẫn chứng mấy câu
thơ: Thẹn hoài cho người nước này, đau
xót như có gai đâm trong da thịt, bình sinh
đọc năm ngàn quyển sách, nhưng không có một
chữ nào cứu đói cho dân được.
Nhiều người hiểu Nguyễn Hiến Lê hơn qua
tập Hồi ký (NXB Văn Học, 1993) và Đời viết
văn của tôi do ông tự viết (NXB Văn Hóa,
1996). Ông cũng tự kể về cuộc đời và việc
làm của mình qua bài trả lời phỏng vấn khá
dài của ông Nguyễn Ngu Í đăng trên tạp chí
Bách khoa (1965) trong mục “Sống và viết
với...”, rồi in thành sách (1966), và một
bài khác nữa do ông Lê Phương Chi thực hiện
(in trong tập Tâm tình văn nghệ sĩ, NXB
Thanh Niên, 2001). Ngoài ra còn có cả một
tập tiểu sử Nguyễn Hiến Lê, cuộc đời và sự
nghiệp của Châu Hải Kỳ (NXB Văn Học, 1993)
dày đến trên 300 trang. Để tìm hiểu về ông,
tưởng như thế cũng đã tạm đủ. Tuy nhiên càng
về sau, nhất là khi sách Nguyễn Hiến Lê được
xuất bản sau thời kỳ chuyển hình của đất
nước (mà người khai phá đầu tiên là ông Ba
Kính, giám đốc NXB Long An trong những năm
90), nhiều người càng biết rõ chân giá trị
những tác phẩm của ông hơn, cũng như chí
hướng và lòng tinh thành mà ông đã gởi gắm
hết vào, thì có nhiều tác giả lại viết thêm
về ông đứng từ những góc độ nhìn khác nhau.
Theo Văn hiến Việt Nam