Nhà Văn Võ Hồng  

"Kéo dây gọi Võ Hồng".

 Lý Không Minh                Việt Luận  826          3.9.1993

   

Nha Trang 13 năm trở lại. Một buổi sáng tinh mơ 6 giờ. Bánh tàu sắt nghiến trèo trẹo trên đường rầy nhỏ giọng. Tôi sắp bước xuống phố biển từ một chặng đường 500 cây số trong đêm. Ðã qua Mườ+ểu học Nha Trang, cả thời niên thiếu cho đến khi mép nhu nhú râu tuổi vỡ tiếng. Học đường và hoan lạc, nhưng là cảnh hạnh phúc không lo âu tính toán. Ngoắc một cái năm 75, chạy vô Sài Gòn rồi chạy  lại Nha Trang, căn nhà cũ đã mất, chỉ còn hai chị em vớt bèo nuôi vịt. Tôi đạp xe đi trên phố cũ. Ghé chợ Ðầm ăn phở. Rất gần với căn nhà Quách Tấn thi sĩ đã mất vài tháng trước. Văn chương nếu có thật, phải là một điều gì bên kia trang giấy, nơi màu trắng đè ngược mực xanh vì tóc tang vẫn trải xuống đời. 

    Biết thế nên càng nôn nao đi thăm Võ Hồng, một trưa vàng phố biển trước ngày ra Trung, về Bắc. Tôi đạp xe vào chợ Xóm Mới mua gói trà và phong bánh làm chút lễ mọn của kẻ hậu sinh tỏ lòng thành kính, và đạp xe lóc cóc dừng lại ở cổng nhà của kẻ vẫn vọng Hoài cố nhân.

    Con đường Hồng Bàng nơi nhà văn ở vắng ngắt. Trước nhà một lề đất thấp để chặn nước tràn vào sân những ngày mưa đọng. Cổng sắt khóa. Trên cổng góc trái, một tấm thiếc nhỏ bằng nửa cuốn sách ghi ! "Kéo dây gọi Võ Hồng". Ngay trước tấm bảng, thò ra một khoen dây kẽm để kéo. Một tấm biển nhỏ để gọi tên, chỉ năm chữ nhưng rất đỗi văn chương Võ Hồng. Giản dị mà khéo, lượng thông tin chừng mực đủ gợi một dáng lớn trong văn học.

    Tôi ngập ngừng một giây. Tôi đã đi ngang qua nhà ông nhiều lần ngày xưa. Nhà văn cũng là thầy giáo dạy văn chương ở trường bán công Lê Quí Ðôn. Bỗng có cái cảm giác rụt rè của những ngày cúi đầu đi ngang ngôi nhà tên tuổi. Nhưng rồi cũng móc ngón tay kéo, kéo nhè nhẹ. Chẳng nghe âm thanh tiếng chuông nào cả. Kéo mạnh, sợi dây giằng vào nhà máng trên cây giựt lá xào xạc. Một chập, có người đàn bà đi ra. "Chú tìm ai?" - Thưa, bác Võ Hồng. Người đàn bà bảo chờ một lát rồi quay trở vào. Hai đứa bé độ 5-6 tuổi chạy ra, mở cổng, dắt vào một lối đi nhỏ bên hông.

    Nhà văn ở trên gác.

    Ông đứng ở ban công, nắng đổ xiên qua màu hoa đỏ của bóng dâm bụt thắp sáng hơn cái áo sơ mi trắng đã ngả màu, thắp sáng hơn mái tóc bạc lơ thơ bóng xế. Ông cao hơn tôi tới gần một cái đầu, càng thêm chừng nỗi trơ trọi của một phong thái giản dị nhưng rất mực tài ba. Ông kéo ghế mời tôi ngồi ngoài sân thượng, vui vẻ kêu hai đứa bé "chào chú" và vào đề êm ả như mở đầu một truyện ngắn không trúc trắc : "Hai đứa này con hàng xóm, toa coi, nó không được đi học vì người ta bảo thiếu thông minh. Ðâu có như thế được. Moa sẽ chứng minh ngược lại, moa dạy chúng lưyện trí nhớ. Ðể vu xem cháu tôi nó thiếu thông minh không nhé". Ông kêu cậu bé, bảo : "Viết chữ thế cho chú coi nào". Thằng bé cầm viên phấn thảo liền chữ "thế" (Hán tự) lên nền xi măng. Ông lại bảo : "Ðọc cho chú nghe Phong kiều Dạ bạc". Cậu bé vanh vách đọc bài thơ Ðường của Trương Kế :

Nguyệt lạc ô đề sương mãn thiên
Giang phong ngư hỏa đối sầu miên.
Cô tô thành ngoại Hàn sơn tự
Dạ bán chung thanh đáo khách thuyền.

   Tôi có thể nghi ngờ phương pháp dạy trẻ luyện trí nhớ, nhưng không thể nghi ngờ tâm cảnh cô hàn của ông khi đem tâm sự giải bày qua cậu bé. Trên căn gác đìu hiu trong một thành phố buồn vắng vẻ, bên hông khế lấm tấm hồng và một đêm trăng sáng, ông nằm nghe ... một thời Cô Tô rực rỡ có vua Ngô bên nàng Tây Thi. Một Tô Châu non nước hữu tình. Nhưng đã là. Giờ là tuổi già hiu quạnh. Trong tâm ông hẳn hẳn dựng một bến đỗ phải dừng, một tiếng quạ kêu sương, một ánh lửa chài lắt lay sầu mãi. Và ngoài kia trăng lặn. Và trong này văn chương xếp bút. Chiêm nghiệm. Ðời như sương như khói. Nào chỉ có hơn một nghìn năm trước Trương Kế đối diện ánh lửa chài mà man man sầu vạn cổ, mà mơ màng vương vấn nơi ngoại thành. Muôn thuở sau, Võ Hồng, 72 tuổi, vẫn "nhớ người xưa", ba người con đã bên kia trái đất , lặng lẽ là ông ngoại phố hiên đường, khác là không một tiếng chuông chùa hay chỉ là tiếng chuông chùa vô thanh ... Mà vẫn nhuốm mùi tục lụy ! Có người nói ông là không giữ thanh (ám chỉ ông "được" kết nạp vào Hội Nhà Văn sau 1975). Không ai gánh nổi cô đơn của ông nhưng người ta thích gánh danh ông. Cứ như là thích kẻ khác sạch giùm mình. Ðứng ngoài vòng thì dễ nói "hà tất.." . Ờ, thì hà tất .. Hà tất ông phải cô đơn. Tôi biện minh cho ông à ? Hà tất ! Ông trong sáng, giản dị, và hào quang đã sáng rực thì cần chi thêm chút lửa mờ. Thế thôi, bởi ông là Võ Hồng.

    Nhà văn mời khách vào nhà. Căn phòng bừa bộn chứng tỏ sự thiếu vắng bàn tay đàn bà. Ông đi rửa một cái ly, chế nước trà đã nguội ra tách, mở hộp bánh biscuit tròn để dưới đất, và nói về những chối từ cầm bút lại, rất nhẹ nhàng nhưng có khi chẳng đặng đừng. Rồi thích thú khoe là có người bên Úc gửi cho ông một bài viết (lâu rồi) của ông đăng trên tờ báo Chiêu Dương. Bảo tôi để đi vào văn chương, phải sống, và cần ơn thế là chiêm nghiệm cả nội lẫn ngoại cảnh. Ông nói : " Moa ngồi bên cửa sổ này, bao năm ... Moa nhìn, ngắm chiếc lá mãng cầu bên ngoài cửa sổ. Một sáng, có giọt sương mai đầu chiếc lá phản ánh sáng và tỏa ra một màu sắc rực rỡ long lanh, đẹp vô ngần. Và moa tả đôi mắt một người con gái : Annie ! Ðôi mắt sáng long lanh như hai giọt nước treo ở đuôi lá na, lá mận được nhìn qua ánh sáng của khung cửa sổ...

    Nhà văn cười hồn nhiên và sung sướng ở một chi tiết truyện. Ông chỉ "mánh" viết, cả một kinh nghiệm văn chương thể hiện tự thể nghiệm, bày ra, không dấu diếm. Hỏi :  "Vu đọc truyện của moa, bây giờ nhớ được điều gì ?"

    Tôi thành thật bảo nhớ nhất là ông tả  cảnh Tuy Hòa, nơi mà con đường chính của thị xã được ông ví như một cây xiên lụi qua con gà, rồi từ đấy chẻ ra thành những đường con. Ông gật gù. Tôi bảo những truyện ngắn của bác trong Con suối mùa xuân, truyện ông quen cô gái nhờ con chó táp vào bắp vế rồi được người đẹp nặn máu rỉ từ vết thương, truyện "A lô, tổng đài cho tôi gọi ..., truyện.. Ông mỉm cười :   - Nhớ những gì moa viết, vu có nhận xét gì ?

    Tôi suy nghĩ. Nhà văn đòi một tổng luận về sự nghiệp văn chương của ông. Một cái gì còn lại của Võ Hồng sau khi đã quên hết ! Khó đấy, nhưng được, vắn tắt thôi. Chung quanh thì người ta cho rằng văn ông trong sáng, giản dị, dùng chữ cẩn thận nhưng đọc không thấy cầu kỳ, và gần gũi với đời sống. Nhưng đấy chỉ là những nhận xét sơ bộ có tính cách ước lệ. Văn Võ Hồng, như một giòng suối trong êm đềm, trôi chảy dưới ánh bình minh, nhưng nhìn kỹ, nhìn sâu vào bề mặt con suối hiền lành miên man ấy, ta có thể thấy những bến bờ quạnh hiu ở những viên sỏi lắng chìm đáy suối. Cái bề mặt êm đềm chỉ là bề mặt, chỉ là để giấu kín những gửi gấm, những băn khoăn nỗi niềm trong lòng văn chương sâu thẳm

    Ông đứng bật dậy, cười ha hả thích thú, đưa tay :  - Moa phải bắt tay toa một cái. Ðúng vậy ...  đúng vậy...

    Từ sân thượng nắng chói, một con chim cất tiếng hót. Ông cầm tay tôi dắt ra sân, vui thú chỉ cây bàn chải xòe nan vạm vỡ, nói : - Ðầu tiên chỉ là một cái mầm, người ta vất đi. Moa thấy tội, lượm về ươm, người ta vất đi, vất đi, toa thấy đó...  Ông nhắc đi nhắc lại câu chuyện "hữu duyên" với cây bàn chải bị vất khi còn tấm bé. Nhà văn lượm về, trân trọng, chăm nom. Như ông thấy mọi vật đều có mầm sinh mà chỉ với mắt trí kiến, từ thị, mới nhận chân được. Ông trân trọng kỷ niệm, như căn phòng dành cho tâm thức nhà văn để trở về với người bạn đời sớm khuất. Ông tiễn tôi ra cầu thang. Khi tôi chào, ông dường như không thấy, cứ vịn lan can mà ngắm mây chiều lảng vảng rồi bảo : - Toa chờ moa chút xíu. Ông vào phòng; một chốc trở ra với bài tùy bút "Nghĩ Về Mẹ" ông ký tặng. Bỗng sung sướng nhớ người xưa nói :  -  Người giàu sang, thì tiễn đưa bằng của cải, người nhân thì tiễn người bằng lời nói. Tôi không được giàu sang, trộm tự coi mình là người nhân nên tiễn ông bằng lời nói...

    Ừ, ông là người nhân, mà dường như dường ấy đã đủ cho một kiếp người. Tôi đạp xe lọc cọc, nghĩ miên man cuộc sống của ông đến quên béng đi phải ghé nhà một người thân. Cuộc đời nhà văn đã sóm quạnh quẽ, đến cuối đời càng cô độc hơn thế. Bỗng chạnh lòng. Lỡ đêm khuya khoắc, cái thân cô đơn ấy biết lấy ai mà nương tựa. Nhà giáo, nhà văn. Học trò tan lạc hết, bằng hữu xa xôi cả. Có thể Võ Hồng đã chọn lựa cô đơn, nhưng sự chọn lựa có thể bởi không còn một chọn lựa nào khả dĩ tốt hơn. Ông đã đắp đất ngăn nước lũ vào sân, nhưng có lẽ hồn ông mãi là cơn lụt ở vùng đất của chớp bể mưa nguồn. Cuối đời. Một cây bàn chải gai nhọn. Hoa khế. Hoa Trang. Một sân nắng  và hai đứa trẻ biết viết chữ "thế". Thế thời phải thế. Như những chùm hoa soan đã rơi rụng chỉ còn trơ cọng tàn, ông đã đi trọn một hành trình cô đơn. Cái ấm áp mà nhà văn đã tinh lọc dâng đời, thường sinh từ những trần ai phế phẩm. Như men rượu nổi từ những hạt gạo nát mềm nhưng dựng dậy xiết mấy ngất ngây.

    Thì cũng qua một kiếp người. Nhưng đau !

 

 

 

 

© nhavanVoHong