Nhà Văn Võ Hồng  

  Bạn Lương Vĩnh Tân phỏng vấn nhà văn Võ Hồng.

 

Võ Hồng               1971

 

                         

    

 

Câu 1: Thưa ông, nhân vật Luân ở trong “Như Cánh Chim Bay” đã dựng lên trên tiêu chuẩn nào? Hoàn cảnh địa phương? Tâm tình cá nhân hay lý do nào khác?

Câu 2: Có thể cho tôi biết sơ qua bước đầu văn nghiệp của ông. Nghe nói ông sắp sửa có tập “Truyện Ngắn Võ Hồng”. Sao chưa thấy có bán.

 Câu 3: Người ta nói các nhà văn miền Nam bây giờ hết đề tài sáng tác? Có chăng chỉ là nhắc lại những đề tài sáo cũ lỗi thời. Và tại sao hầu như không có tác phẩm lớn như các nước ngoài. Dù có cũng không được nuôi dưỡng cái tài đó sống lâu.

Những ý kiến, đồng thời những thắc mắc của một kẻ mến mộ văn nghiệp của ông chắc cũng mong được ông vui lòng giải đáp.

                                          

 

Võ Hồng trả lời:

 

Câu hỏi 1.

      

a) Nhân vật Luân được dựng lên trên tiêu chuẩn nào?

 

          Nhân vật Luân trong Như Cánh Chim Bay đại diện cho tầng lớp trí thức tiểu tư sản trong công cuộc kháng chiến chống Pháp 1945-1954. Thật ra nói đại diện cho tầng lớp tiểu tư sản trí thức không phải là đúng hẳn vì một tầng lớp như vậy nếu có chung một số điểm tương đồng thì lại cũng có rất nhiều điều tương phản hay dị biệt nơi từng cá nhân. Trong Như Cánh Chim Bay không phải chỉ Luân thuộc thành phần trí thức tiểu tư sản mà còn nhiều đại diện nữa. Có thể nói Luân là thứ tri thức chuộng cái tuyệt đối, cái toàn hảo nên trở thành rụt rè trong mọi quyết định. Huỳnh Vạn Đông dấn thân ồ ạt hơn, học trường Quân chính ra chỉ huy ở mặt trận. Chủ tịch Trị là tiểu tư sản được rèn luyện chính trị, tiến bộ nên được đề bạt một cách xứng đáng. Ông Vạn Lợi là tiểu tư sản hoạt đầu, dưới triều đại nào, dưới chế độ nào cũng khéo xoay chiều để hường lợi. Vân vân, còn nhiều lắm, mỗi nhân vật mang một cá tính riêng, cho dù họ cũng ở tầng lớp tiểu tư sản.

          Vì Như Cánh Chim Bay là cuốn thứ hai trong một bộ gồm bốn cuốn (cuốn thứ nhất là “Hoa Bươm Bướm”) mô tả mọi giai đoạn của cuộc kháng chiến 1945-1954 nên tôi phải xây dựng nhiều nhân vật đại diện mọi giới tiêu biểu của xã hội thời đó: nông dân, công nhân, hào phú, phụ lão, thiếu nhi…

    

b) Hoàn cảnh địa phương?

 

          Tôi để cho Luân sinh trưởng ở miền Nam Trung Việt và khung cảnh kháng chiến cũng xảy ra ở miền Nam Trung Việt. Lý do là vì tôi ở miền này và như vậy những điều nghe thấy được mô tả lại sẽ mang được tính chất chính xác.

    

c)Tâm tình cá nhân hay không một lý do nào khác?

 

          Tôi không hiểu ông định hỏi gì bằng chữ “tâm tình cá nhân”. Có phải ông định nói: Nhân vật Luân mang hình ảnh và tâm tình của tác giả? Nếu vậy thì tôi xin thưa: Không hoàn toàn đúng như vậy. Tác giả không dại tự trói tay mình bằng cách đem mình ra làm nhân vật chính của một truyện. Có thể có nhiều hoàn cảnh sống và kinh nghiệm sống của mình gời trong đó chớ không phải là tất cả là y nguyên như sự thật. Tiểu thuyết mà. Phải xáo trộn thay đổi cho có chút hồi hộp hấp dẫn chứ.

    

 Câu hỏi 2:

    

a) sơ qua bước đầu văn nghiệp…

         

Truyện ngắn đầu tay của tôi được đăng trên tuần báo Tiểu Thuyết Thứ Bảy (Tân Dân-Hà Nội) mùa thu năm 1938. Nguyên do thế này. Hồi tôi học ở Trung học, mỗi tuần có hai giờ học Việt văn được coi như Sinh ngữ (hồi đó các môn học đều bằng Pháp văn). Một hôm giáo sư dạy Việt văn, ông Trần Cảnh Hảo, tác giả một mẫu tự Quốc ngữ mà tôi có dịp đề cập đến trước đây trên nguyệt san Tân Văn, sau khi chấm bài Luận văn của tôi có phê mấy chữ: Tôi nhận thấy có vài đóa hoa trong bài của anh. Tôi không sung sướng nhiều lắm bởi vài đóa hoa mông lung nào đó trong khi các bạn tôi lại tỏ ra vui vẻ một cách hăng hái thay tôi. Bởi lẽ họ đang chủ trương một tờ thư báo của lớp (báo viết tay) và họ nhất quyết bắt tôi phải góp bài. Tôi không từ chối được. Bài viết xong, một bản tôi đưa đăng trên báo nhà, một bản tôi gởi ra tòa soạn Tiểu Thuyết Thứ Bảy ở phố Hàng Bông Hà Nội. Tòa soạn chẳng thư từ liên lạc gì với tôi hết nhưng chừng một tháng sau tôi bỗng thấy bài đó được đăng. Đầu đề của truyện là Mùa Gặt. Dưới ký bút hiệu là Ngân Sơn (Ngân Sơn là tên làng tôi). Dưới ký bút hiệu có thêm chữ Trung Việt đặt giữa vòng đơn, đó là sáng kiến của tòa soạn. Năm đó tôi đang học Troisième année (đệ tam niên) ở Collège Quy Nhơn.

          Năm 1943 tôi viết một truyện dài lấy tên Ngôi Sao Nhỏ định dự giải Alexandre de Rhodes, nhưng truyện vừa viết xong thì xảy ra cuộc đảo chánh 1945. Năm 1945 tôi ở Đà Lạt, viết xong một truyện dài khác lấy khung cảnh Đà Lạt thời đó. Truyện viết xong, chép lại thành tập sạch sẽ nhưng chưa tìm ra được một cái tên truyện vừa ý. Rồi xảy ra Cách Mạng Tháng Tám và cuộc Kháng Chiến. Trong thời gian cuộc kháng chiến tôi viết truyện Hoài Cố Nhân.

          Khi kháng chiến chấm dứt, tôi trở về mang theo cả các tập bản thảo. Một anh bạn của tôi một hôm bất ngờ lôi đọc truyện Hoài Cố Nhân và anh đề nghị đem đưa nhà xuất bản Ban Mai. Cuốn truyện được in sau ba tháng. Và từ sau Hoài Cố Nhân, trong hoàn cảnh sống đơn chiếc, tôi cứ tiếp tục viết cho đến ngày nay.

    

 b)… tập Truyện Ngắn Võ Hồng…sao chưa thấy có bán?

 

          Tuyển tập Truyện Ngắn Võ Hồng là sáng kiến của nhà xuất bản Lá Bối. Nhưng nhà Lá Bối chưa kịp thực hiện thì giá giấy cao, giá sinh hoạt cao, vốn liếng kẹt tứ tung đành phải chờ đợi một ngày tốt hơn.

    

 Câu hỏi 3:

 

     Các nhà văn miền Nam hết đề tài sáng tác…tại sao hầu như không có tác phẩm lớn như các nước ngoài…?

         

- Tôi không nghĩ như vậy. Đề tài thì thiếu gì, chỉ có vấn đề là có phương tiện để sáng tác hay không.

1) Sáng tác phẩm trước khi được in phải bị kiểm duyệt, như vậy nghĩa là chỉ có một số nào đó được in, còn một số khác, trong đó hy vọng có những tác phẩm lớn mà ông nói, bị chận lại.

          Muốn có tác phẩm lớn, người viết phải say mê và tự do trong việc phát biểu tư tưởng của mình, trong cách trình bày tư tưởng của mình. Nếu vừa viết vừa tránh bên này né bên kia, mắt láo liên liếc nhìn xem đâu là đường bị cấm, đâu là đường cho lưu thông thì thử hỏi tác phẩm nó lớn thế nào được? Chặt đuôi, chặt cánh, chặt chân, chặt luôn cả cổ thì dẫu vĩ đại như con phượng hoàng cũng sẽ chỉ còn hình thù của một con gà mái hoặc là một con cút.

          

2) Muốn tạo tác phẩm lớn, ngoài tài năng, người tác giả phải để nhiều tâm não và thì giờ vào đó. Ở ngoại quốc, một tác phẩm được in ra có thể nuôi tác giả trong mười năm, hai mươi năm, có khi suốt đời. Không kể vài cuốn được thành công hi hữu, trước đây tôi có đọc ở một bài nào đó, người ta bảo cứ trung bình một chữ trong tiểu thuyết của E. Hemingway được trị giá một đô la. Theo giá ngạch đó thì một trang sách của ông mang lại cho ông đ đồng 180 ngàn đồng bạc.

         

(10 chữ x 30 dòng = 300 chữ = 300 đô la = 180.000 đồng bạc).

          Một cuốn sách dày 300 trang mang lại cho ông 51 triệu bạc.

         

Ở Việt Nam một cuốn sách thuộc loại bán chạy in được ba ngàn cuốn. Theo như mỗi cuốn giá năm trăm đồng thì bản quyền tác giả được 500 x 3.000 x 10% = 150.000 đồng.

Với số tiền đó tác giả chỉ có thể sống tiết kiệm được ba tháng trong khi một tác phẩm lớn phải được viết trong năm năm, mười năm hay dài hơn.

         

3) Muốn viết tác phẩm lớn, tác giả phải đi đây đi đó, điều tra tận chỗ, hỏi han tận người, vừa lục lọi tra cứu tài liệu (tôi còn nhớ để viết một cuốn sách nào đó mà tôi xin lỗi đã quên mất tên, một tác giả đã phải lục lọi đọc các tài liệu liên quan đến vấn đề, số tài liệu nhiều đến nỗi có thể chứa đầy hai toa xe lửa!). Có tác giả phải nhờ thư ký riêng của mình lục tìm tài liệu. Cố nhiên nếu là thiên tài thì khỏi đặt điều kiện gì hết, cứ cất tiếng lên là đã thành tiếng hát Thiên Nga rồi. Nhưng qua sự tìm hiểu chân thật biểu lộ trong thư ông, tôi nghĩ rằng ông không muốn biết về những người viết văn bình thường, nghĩa là những người làm việc nhọc cũng biết đổ mồ hôi, những người khi cảm cúm cũng cần thuốc Doxymycine và để nuôi sống hàng ngày cũng cần gạo Thần nông R18, R20.

 

© nhavanVoHong