Nhà Văn Võ Hồng  

Nhà giáo – Nhà văn Võ Hồng: một nhân cách lớn.

Mang Viên Long         Thời Văn         

                     

 

                            

                                                                                      Lập Tâm Tịnh Thất

                                                                                  Những ngày cuối năm Ất Hợi.

     Tôi còn nhớ rõ lời anh đã nói như an ủi tôi trong buổi sáng sớm tiễn tôi ra bến xe Nha Trang năm ấy: “…Với ông còn trẻ, thì dù cuộc sống có vùi dập, khổ đau, vẫn có cái lợi: Đó là những lần “trắc nghiệm” về sức khỏe và ý chí” (1). Trong mười năm qua, tôi chỉ viết thư thăm anh có một lần – và như thuở nào, anh đã hồi âm cho tôi sau đó: Anh vẫn chân thật, nhiệt tình với bạn văn, không một chút thay đổi.

     Tháng bảy 1995, từ Sài Gòn về Tuy Hòa, tôi đã ghé lại thăm nhà văn Võ Hồng vào một buổi trưa – sau mười năm không có dịp trở lại. Bước lên những bậc thang nhỏ, dốc, dẫn lên căn gác anh ở (và cũng là nơi làm việc của anh), tôi cảm thấy thật bình yên, thanh thản, như trở về với người thân yêu cũ…

     Đang loay hoay với mớ sách báo, giấy tờ bừa bộn trên nền nhà với một đứa cháu trai trạc mười tám tuổi, anh dừng tay, đứng dậy, giương mắt kính ngỡ ngàng nhìn tôi giây lâu. Anh chợt vỗ tay lên trán: “Nhớ rồi. Sao lâu quá không thấy toa?”. Anh tiến lại phía cừa phòng bắt tay tôi. Tôi nhìn kỹ lại anh sau mười năm xa cách, thay đổi. Người có gầy cao hơn, tóc thưa và bạc nhiều hơn, nhưng dáng vẻ vẫn ung dung, lời nói vẫn khỏe – nhất là tấm chân tình nồng nhiệt của anh dành cho các bạn văn, vẫn không có chút suy suyển. Anh vẫn sống giản dị đến xuềnh xoàng với chiếc áo sơ mi trắng tay dài, chiếc quần pyjama nhạt màu… Tôi liên tưởng tới hình ảnh của một vị đạo sĩ, tu sĩ, đang sống ẩn nhẫn tầm đạo với nhiều giới luật!

     Tôi cười: “Lận đận hoài không có điều kiện ghé thăm anh, tôi xin lỗi! Hôm nay thì có thể ở lại lâu với anh được rồi…”. Tôi ngồi vào chiếc ghế mây cũ cạnh chiếc bàn tròn đặt ở khoảng sân ngoài hiên gác, lấy thuốc ra hút, và nhìn ngắm lại căn gác xưa, chờ anh đang lỡ việc…Phòng anh ở (và làm việc) không rộng lắm, có đặt một chiếc giường nhỏ, một cái bàn thấp, những kệ tủ, sách, các chồng sách báo dọc vách tường… Rải rác nhiều nơi, kể cả trên giường, sách báo (của Việt Nam và nước ngoài) lẫn lộn. Chiếc bàn thấp – lúc trước là chỗ tiếp khách, nay mấy chiếc ghế không còn, bàn dùng để chứa nhiều thứ…Kế bên phòng anh ở, là một căn phòng hẹp hơn, có lẽ là “cái kho” chứa sách báo cũ, những vật dụng lặt vặt ít khi được đụng tới. Cách đây mười năm, tôi đã ngủ trong cái “kho” ấy vì phòng anh không có chỗ nào trống để đặt thêm một chiếc giường xếp! Căn gác của anh nằm thụt phía sau ngôi nhà, nên vắng và hơi buồn. Chỉ có khoảng sân nơi đặt chiếc bàn tròn cao và mấy chiếc ghế mây cũ kỹ là được thoáng mát, có thể nhìn thấy hoa lá, một ít bầu trời, và cảnh tượng một góc phố Hồng Bàng phía dưới…

     Anh trở ra, ngồi vào chiếc ghế đối diện: “Chiều nay phải đưa đứa cháu vào Sài Gòn, định tìm vài cuốn sách gửi cho nó mang đi…”. Anh thân tình hỏi thăm tôi về tình trạng gia đình, công việc làm ăn, và tin tức của một vài bạn văn ở Tuy Hòa, Quy Nhơn… Như chợt nhớ, anh đứng dậy bước vào phòng, và trở ra với bình trà, một cái tách nhỏ. Anh rót trà ra tách cho tôi, phần anh lại dùng một cái chén nhỏ. Nhìn thấy chiếc bình, cái tách, cái chén tôi nghĩ thầm, có lẽ, anh ít khi đụng tới những thứ ấy? Anh không hút thuốc. Không uống rượu. Không ghiền trà. Đời sống cô độc của một nhà văn gần suốt đời tận tụy vì văn học, lại thiếu bàn tay chăm sóc của vợ (trước đây) và bây giờ là của các con, có lẽ đã khiến anh không có thời gian để tự chăm sóc cho mình những thứ lặt vặt chung quanh nữa?

     Tôi nhìn vào đôi mắt vẫn sáng trong, linh hoạt của anh – hỏi thăm: “Nghe anh vào Sài Gòn chữa mắt, hôm nay đã khỏi hẳn chưa, thưa anh?”

     - Ồ, chỉ là tình trạng faiblesse (suy nhược) của mắt – anh phác tay như chẳng hề để ý tới chuyện bệnh tật.

     Khi ngồi trò chuyện, anh chỉ dùng một chiếc kính gọng đồi mồi, nhưng lúc cần đọc, anh đeo thêm một chiếc kính nhỏ vào giữa để tăng thị lực. Trong lúc tôi lật xem thoáng qua tập vở dày, khổ lớn, lưu lại các bài báo viết về anh, thì anh trở vào phòng mang ra  một cuốn sách mới – cuốn “Trầm tư” vừa được nhà xuất bản Trẻ ấn hành. Anh tâm sự: “…Có một cô bạn ghé thăm, báo cho mình biết mình có sách vừa in, mình mới mượn coi thử! Thì ra, mình nhớ đã đưa cho L.Q đã lâu, anh ấy in rồi, cũng quên chưa gởi sách cho tác giả!”. Anh cười hồn nhiên: “Moi phải mượn tạm của cô bạn quyển sách, để kịp gởi cho một người bạn ở Pháp”.

     Anh lật vài trang, đọc cho tôi nghe đôi câu, và vui vẻ nhận xét: “Hôm nay thì tình trạng biên tập ở các nhà xuất bản cũng đã tiến bộ nhiều, có thoải mái, cởi mở hơn xưa nhiều…Sách lại được trình bày rất mỹ thuật, không kém các đầu sách nước ngoài. Mình phải tin tưởng, đừng nghe nhiều conseils quá. Je n’ai pas de conseils à donner. (Tôi không có lời khuyên). Tôi chia sẻ nhận xét lạc quan của anh và thật sự mong mỏi sinh hoạt văn học ngày càng phong phú, rộng mở hơn…

     Tôi hỏi thăm anh về tình trạng thiếu sót trong in ấn của tập “Truyện chọn lọc” (Hội nhà văn xuất bản 1994) – một sự thiếu sót, nhầm lẫn mà người đọc khó có thể “thông cảm” và hiểu nổi (trên 130 lỗi lớn, nhỏ). Anh cười: “Toi biết rồi, moi ở trong này, làm sao có thể theo dõi, chăm sóc cho “đứa con của mình” được? Còn nhà in thì…quá yếu kém, biết làm sao?”. Trả lời về việc anh (và Sơn Nam, Thái Lang) đã được đưa vào danh sách “Hội viên dự bị Hội Nhà văn” (1982) trước khi chính thức gia nhập. Võ Hồng đáp: “Thông thường ở các nước khi thấy một người cầm bút xứng đáng thì Hội mời làm hội viên. Nếu người đó có chức vụ cao (Tổng thống, Quốc trưởng…) thì mời làm hội viên danh dự. Đợi người đó trả lời chấp thuận. Chứ ai lại tự động phong cho chức hội viên, mà lại là hội viên dự bị… Dự bị có nghĩa là tự nguyện phấn đấu cho xứng đáng hơn (…) Võ Hồng xấu hổ, nhưng im lặng, nói ra sợ bị hiểu lầm!”.

     Anh nhắc kể lại nhiều niềm vui, an ủi quý báu mà anh đã nhận được, từ những nhà phê bình chân chính, từ tấm lòng vô tư trong sáng của các bạn trẻ sinh viên, từ nhiều thế hệ độc giả trong và ngoài nước…đã gởi thư thăm hỏi, chia sẻ điều tâm đắc đã viết.

     Anh lại trở vào phòng, lấy ra vài tập sách tặng tôi. Anh nói về tập: “Hồn Nhiên Tuổi Ngọc” (Thơ – nhà xuất bản Trẻ - 1993). “Moi có đề nghị một cách dạy cho các em tập làm thơ. Nếu có thời gian và điều kiện, moi có thể viết phần “phụ lục” này thành một cái thèse văn học”. Về tập “Thương mái trường xưa” (Truyện thiếu nhi – nhà xuất bản Trẻ - 1993), anh tâm sự: “Moi nhận được cả những lá thư của các em, các thầy cô giáo, và phụ huynh ở tận các huyện, tỉnh miền Bắc xa xôi… Họ đã chân thật cho biết, qua tập sách nhỏ ấy, họ đã hiểu thêm được miền Nam hơn là trước đây họ đã nghĩ…”.

     Tôi rất đỗi xúc động khi nhìn lại tấm ảnh anh đã chụp chung với ba người con trước ngôi mộ của vợ cách đây gần 40 năm. Anh lúc ấy là giáo sư của các trường Trung học Lê Quý Đôn, Bồ Đề, trẻ trung và đạo mạo với chiếc cravat to bản, các con đều mặc áo dài trắng – tuy đứa nhỏ nhất chỉ mới ba tuổi. Người đàn ông trạc sáu mươi có mặt trong ảnh, là người bác thâm tình của anh – đó cũng là nhân vật chính của “Người về đầu non”.

 

Võ Thị Diệu Hằng

 

     Vợ anh mất từ năm anh chỉ lên ba mươi, để lại cho anh ba người con còn nhỏ, anh đã sống mẫu mực và tận tụy với nghề, dạy học và viết văn, để nuôi dạy các con trưởng thành tốt đẹp. Có cháu đã được du học và đã thành đạt ở nước ngoài. Dù đã nhiều lần các con yêu cầu để được sum họp, nhưng anh vẫn sống một mình trên căn gác nhỏ ấy, với một đời đạm bạc, thanh thản, cùng lòng nhiệt thành với văn học, và tình thương yêu gắn bó dành cho quê nhà…Văn anh là con người của anh: Trong sáng, khiêm tốn, khoan hòa – Anh đã thủy chung trọn vẹn với tác phẩm và cuộc đời của chính mình, ngay cả những lúc gian khó nhất…”.

 

(1)Võ Hồng thường gọi “ông” hay “toi – moi”, thường nói đệm tiếng Pháp trong lúc trò chuyện. Đó là thói quen rất tự nhiên, thân mật của anh, cho dẫu với bạn văn còn nhỏ tuổi.

 

© nhavanVoHong